Thư mục Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ số 7 năm 2017
11 tháng 9, 2017 bởi
Thư mục Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ số 7 năm 2017
Trần Hữu Trung

1. Hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam/ Nguyễn Danh Lương, Thái Mạnh Cường// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 7/2017 .- Tr. 12 – 17
Tóm tắt: Một trong những sáng kiến về công nghệ thu hút được sự quan tâm của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian gần đây là hệ thống thông tin quản lí (Management Information System - MIS). Hệ thống này cung cấp thông tin phục vụ các hoạt động từ tác nghiệp cho đến quản lí điều hành một cách nhanh hơn, chính xác hơn và dựa trên thời gian thực, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh lâu dài cho ngân hàng. Bài viết này khảo sát thực trạng MIS tại các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, đặc biệt là 3 NHTM lớn và tóm tắt một số thành tựu cũng như hạn chế cơ bản liên quan đến cấu trúc và ứng dụng của MIS. Hiện tại, MIS chưa thể trực tiếp đáp ứng nhu cầu thông tin hỗ trợ quản lí, và đang phải đối mặt với một số vấn đề về quản trị dữ liệu ngân hàng.
Từ khóa: MIS; Quản trị dữ liệu; Ngân hàng thương mại
2. Khuyến nghị cách thức sử dụng công cụ hạn mức tín dụng trong điều hành chính sách tiền tệ/ Trần Huy Tùng, Nguyễn Huyền Dịu// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 7/2017 .- Tr. 18 – 22
Tóm tắt: Từ năm 2011 đến năm 2016, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã sử dụng công cụ hạn mức tín dụng (HMTD) trong điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) nhằm kiểm soát các ngân hàng trong hoạt động cấp tín dụng cho nền kinh tế, từ đó, đảm bảo mục tiêu duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát. Bên cạnh đó, NHNN còn phân bổ HMTD cho ngành nghề nhằm kiểm soát, điều chỉnh cơ cấu tín dụng của các NHTM theo hướng Chính phủ khuyến khích. Với công cụ này, bên cạnh những ý kiến ủng hộ, còn một số ý kiến phản biện cho rằng khi lạm phát đã và đang ở mức thấp nên gỡ bỏ công cụ này trong điều hành CSTT. Thậm chí, một số học giả cho rằng vì sự không rõ ràng trong xác định cơ sở khoa học áp dụng cho việc sử dụng công cụ HMTD nên việc loại bỏ công cụ này là điều cần thiết. Bài nghiên cứu, trước hết, đưa ra cơ sở lý luận của công cụ HMTD, phân tích cách thức sử dụng công cụ này tại Việt Nam trong giai đoạn 2011-2016, từ đó, đề xuất khuyến nghị cho việc sử dụng công cụ này của NHNN Việt Nam trong tương lai.
Từ khóa: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Công cụ hạn mức tín dụng; Chính sách tiền tệ
3. Xu hướng mới về nghiệp vụ chính sách tiền tệ nhìn từ giác độ thống kê/ Vũ Xuân Thanh// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 7/2017 .- Tr. 23 – 27
Tóm tắt: Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009 đã bộc lộ những sai lầm nghiêm trọng về quan niệm thống kê, đặc biệt là thống kê tiền tệ. Một thời gian dài trong lịch sử, các hoạt động quản lý và điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) hầu như đều chỉ dựa vào dữ liệu thống kê vĩ mô tổng thể. Tuy nhiên, việc thực thi CSTT thường lệ thuộc và tạo ra một lượng đáng kể các dữ liệu vi mô. Theo nghiệp vụ trên thị trường tài chính, CSTT là hoạt động “kinh tế vi mô”, bao gồm một số loại dữ liệu vi mô như dữ liệu đủ điều kiện, dữ liệu về các thông số quản lý rủi ro áp dụng cho các đối tác và tài sản, dữ liệu về giao dịch tài chính, dữ liệu về thị trường nhằm xác định tình hình và kết quả thực thi CSTT,…Ngoài ra, vai trò và tầm quan trọng của thống kê vi mô cũng được nâng cao trong những năm gần đây với nhiều lý do khác nhau, bao gồm một số nguyên nhân chủ yếu như thị trường tài chính ngày càng phát triển với sự tham gia của nhiều công cụ và đối tác; các tiêu chí ngày càng tinh tế và phức tạp, kể cả các biện pháp kiểm soát rủi ro; yêu cầu ngày càng cao về kiểm toán; tiến bộ về công nghệ thông tin làm tăng lượng dữ liệu thống kê cần thu thập và xử lý.
Từ khóa: Xu hướng mới của chính sách tiền tệ; Thống kê; Điều hành chính sách tiền tệ; Hoạt động kinh tế vi mô; Vai trò và tầm quan trọng của dữ liệu vi mô
4. Giải pháp hoàn thiện thể chế TTCK Việt Nam theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế/ Nguyễn Thị Mùi// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 7/2017 .- Tr. 28 – 31
Tóm tắt: Khi bàn đến thể chế thị trường chứng khoán (TTCK), có những cách tiếp cận khác nhau. Bài viết này tiếp cận thể chế TTCK theo 3 vấn đề sau, đó là (I) các quy tắc để vận hành thị trường (bao gồm khuôn khổ pháp lý, cơ chế chính sách, các thông lệ quốc tế được thừa nhận); (II) Các tổ chức tham gia thị trường (cơ quan quản lý, các tổ chức kinh doanh chứng khoán, các nhà đầu tư, các nhà tạo lập thị trường) và (III) các biện pháp thúc đẩy phát triển TTCK.
Từ khóa: Thể chế; Thị trường chứng khoán; Khuôn khổ pháp lý; Nhà tạo lập thị trường
5. Xây dựng chỉ số quản trị công ty trên thị trường chứng khoán Việt Nam/ Lê Thu Hằng, Triệu Đình Mạnh// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 7/2017 .- Tr. 32 – 34
Tóm tắt: Chỉ số quản trị công ty được coi là thước đo đánh giá chất lượng quản trị công ty của các doanh nghiệp được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán. Bài viết nghiên cứu về kinh nghiệm xây dựng chỉ số quản trị công ty trên thế giới và các điều kiện, các bước để tiến hành xây dựng chỉ số quản trị công ty trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Từ khóa: Chỉ số quản trị công ty; Thị trường chứng khoán; Doanh nghiệp
6. Kinh nghiệm thu hút, quản lý và sử dụng kiều hối tại Mexico/ Trương Hoàng Diệp Hương// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 7/2017 .- Tr. 35 – 39
Tóm tắt: Kiều hối là một nguồn tài chính quan trọng. Nghiên cứu của Worldbank (2011) cho thấy kiều hối có tác động tích cực tới việc nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần,nâng cao trình độ văn hóa, y tế, giáo dục của người dân tại quốc gia nhận được kiều hối. Nhằm tận dụng được nguồn tài chính này một cách hiệu quả, một quốc gia cần đưa ra được chính sách thu hút, sử dụng và quản lý kiều hối phù hợp. Bài viết nêu kinh nghiệm quản lý nguồn kiều hối và những tác động của kiều hối tới nền kinh tế Mexico, một trong các quốc gia có lượng kiều hối lớn nhất trên thế giới. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các bài học kinh nghiệm thích hợp cho Việt Nam.
Từ khóa: Kiều hối; Mexico; Kinh tế; Bài học kinh nghiệm

Trung tâm Thông tin Thư viện