Danh mục tạp chí mới tháng 5 - Phần 2 - Trung tâm thông tin thư viện
21 tháng 11, 2013 bởi
Danh mục tạp chí mới tháng 5 - Phần 2 - Trung tâm thông tin thư viện
Trần Hữu Trung

I. Tạp chí Kinh tế và phát triển

1. Phương pháp tiếp cận hàm sản xuất và mô hình tăng trưởng dự báo cung cầu lao độngTác giả: Ngô Văn Thứ, Nguyễn Thị Liên
Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế và phát triển, 2011, số 167
Trang: 52-58
Tóm tắt nội dung: Xây dựng một mô hình dự báo cung cầu lao động 2010-2020 làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách thị trường lao động Việt Nam đã và đang là vấn đề không chỉ được Chính phủ Việt Nam quan tâm mà cả các tổ chức quốc tế trong đó có ILO (Tổ chức lao động quốc tế) quan tâm. Đã và đang có nhiều đơn vị tư vấn thực hiện nghiên cứu này với những cách tiếp cận khác nhau. Trung tâm xử lý dữ liệu kinh tế xã hội và Dự báo, khoa Toán kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân là một đơn vị đã thực hiện nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu đã hoàn thành và chia sẻ qua hội thảo vào tháng 6 năm 2010. Bài viết này chỉ dành để giới thiệu một cách tiếp cận mô hình hàm sản xuất kết hợp mô hình tăng trưởng để dự báo cầu lao động. Dự báo cung lao động theo giới, tuổi, khu vực và ngành nghề sẽ được giới thiệu trong các bài viết tiếp theo.

Chỉ số phân loại DDC: 331.12
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

2. Hoàn thiện công tác quản lý nội bộ góp phần nâng cao chất lượng tạp chí khoa học ở các trường Đại học kinh tế Việt Nam: thực trạng và khuyến nghịTác giả: Mai Ngọc Cường, Lê Quốc Hội
Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế và phát triển, 2011, số 167
Trang:59-64
Tóm tắt nội dung: Bài viết này dựa trên cơ sở khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động quản lý tại 4 tạp chí khoa học thuộc các trường đại học thuộc khối kinh tế do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý (Tạp chí) là: Tạp chí Phát triển kinh tế (PTKT) thuộc trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Kinh tế và phát triển( KT& PT) thuộc trường Đại học Kinh tế quốc dân, Tạp chí Khoa học thương mại (KHTM) thuộc Trường Đại học Thương mại và Tạp chí Kinh tế đối ngoại (KTĐN) thuộc trường Đại học Ngoại thương. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhằm góp phần nâng cao chất lượng tạp chí khoa học kinh tế ở các trường đại học Việt Nam.

Chỉ số phân loại DDC: 330.05
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

II. Tạp chí điện tử tiêu dùng, số 72, 2011
Tóm tắt nội dung:
Bạn đang nghĩ đến những chuyến đi để thả lỏng tinh thần, để “restart” đầu óc chuẩn bị cho giai đoạn sắp tới? Đừng chần chờ nữa, hãy vác ba lô lên đường như là cách tặng quà cho chính bản thân mình, rồi bạn sẽ thấy mọi chuyện tốt đẹp. Đừng quên trang bị cho mình những món đồ Hi-Tech giúp chuyến hành trình trở nên hoàn hảo hơn.Bạn cũng đừng quên trang bị những sản phẩm , kiến thức làm dịu không khí oi nóng ngày hè mà ĐTTD giới thiệu trong số báo này nhằm hạ nhiệt cuộc sống bạn nhé!
Ngoài chuyên đề mùa nóng mà tạp chí giới thiệu đến độc giả cũng cần lưu ý bạn đọc mảng công nghệ đang chiếm lĩnh thị trường với dòng Smart TV của các tên tuổi công nghệ nổi tiếng, Samsung, LG, Sony...tất cả những “ông lớn” trong ngành sản xuất hàng điện tử đều cho ra mắt những chiếc TV thông minh tích hợp công nghệ tiên tiến mang đến những trải nghiệm thú vị cho cả gia đình.Ngoài smart tv, smart phone cũng là mảng công nghệ đang gây chú ý trên thị trường điện tử tiêu dùng với nhiều sản phẩm tên tuổi. Trong số tạp chí nay, ĐTTD giới thiệu đến bạn đọc những chiếc điện thoại thông minh của Samsung, Motorola, Sony Ericsson, HTC... với nhiều thông tin review chi tiết giúp bạn đọc dễ dàng chọn lựa một trợ thủ đắc lực cho nhu cầu của chính mình.

Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

III.Tạp chí Ngoại thương, số 11, 2011Trong số này gồm:
- Mục Tin kinh tế (2-5)
- Mục Vấn đề và sự kiện : Ngành công thương quý 1/2011: thương mại tiếp tục tăng trưởng(6); Tiền đồng sắp có giá (9); Xuất khẩu giày dép khi EU bỏ thuế chống phá giá (10).
- Mục Nghiên cứu – trao đổi: Một số ý kiến về hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn tới.(12)
- Mục Cơ hội xuất khẩu: Tổng quan kinh tế - thương mại UAE và quan hệ hợp tác với Việt Nam (14).
- Mục Xu hướng mới: Xu hướng sản xuất đồ nội thất năm 2011 (17).
- Mục Thị trường hàng hóa: Triển vọng một số nông sản xuất khẩu chủ chốt của Việt Nam (19); Ảnh hưởng từ Nhật Bản tới thị trường thực phẩm thế giới (23); Giá hàng hóa tiếp tục cao (24);Những dự báo về giá dầu thế giới (25).
- Mục Kinh tế thế giới: Thị trường các sản phẩm hóa chất châu Á (26); Thảm họa ở Nhật phá vỡ cấu trúc ngành thủy sản toàn cầu (29); Luận bàn về khai thác khí đá phiến (30); BP và Rosnhep kí hiệp định về nguyên tắc khai thác dầu ở thềm lục địa của Nga (32).
- Mục Doanh nhân: Richard Pratt - tỷ phú tài ba và hảo tâm (36).
- Mục Tài chính tiền tệ: Thị trường chứng khoán thế giới quý 1: châu Á khởi sắc (38); Giá vàng tiếp tục tăng? (40).

Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

V.Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống
1. Mấy vấn đề thi học và thi luật đại cương

Tác giả: Lý Toàn Thắng
Nguồn trích: Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 5(187), 2011
Trang: 1-8
Tóm tắt nội dung: Với rất nhiều đối tượng và vấn đề khoa học, ngày nay đã rõ ràng là cần phải được nghiên cứu liên ngành. Đối với văn chương cũng vậy, rất rất nhiều (nếu không phải là tất cả) mọi sự việc, khía cạnh của văn chương nói chung và thi ca nói riêng, đều rất nên được nghiên cứu liên ngành. Ít nhất cũng là liên ngành giữa văn học (lí luận và phê bình) với ngôn ngữ học, và rộng hơn là văn học với kí hiệu học, nhân học, tâm lý học và gần đây nữa là nhận thức học (hay tri nhận học).Bài viết phác họa những đường nét chung nhất của việc nghiên cứu thơ ca, từ góc độ thi học và thi luật đại cương, những điều mà các nhà thơ, nhà phê bình thơ và nói chung là người yêu thơ nên biết, trong việc sáng tác thơ và trong việc đọc hiểu một bài thơ (nhất là thơ bằng tiếng nước ngoài).

Chỉ số phân loại DDC: 808.1
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

2. Vấn đề phân biệt ngôn ngữ - lời nói đối với việc dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ
Tác giả: Trịnh Cẩm Lan
Nguồn trích: Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 5 (187), 2011
Trang: 9-14
Tóm tắt nội dung: Trong cái hiện tượng vốn cực kì đa dạng và phức tạp là hoạt động ngôn ngữ, F.de Saussure đã đưa ra một sự phân biệt rạch ròi giữa ngôn ngữ và lời nói. Theo ông:” đối tượng duy nhất và chân thực của ngôn ngữ học là ngôn ngữ, xét trong bản thân nó và vì bản thân nó”.Vào những năm đầu thập kỉ 70, N.Chomsky đã phục hồi lại sự đối lập này dưới cái tên gọi năng lực ngôn ngữ và sự hành chức ngôn ngữ, đó là sự đối lập một bên là sự hiểu biết của chúng ta về ngôn ngữ còn bên kia là sự sử dụng ngôn ngữ trong thực tế. Chúng ta chỉ có thể nắm bắt được năng lực ngôn ngữ chứ không thể làm như vậy với sự hành chức ngôn ngữ. Có thể nói, tư tưởng của Saussure và Chomsky đã chi phối, thậm chí định hướng cho sự phát triển của ngôn ngữ học của thế kỉ qua. Hầu hết các phạm vi ứng dụng của ngôn ngữ học trong đó có hoạt động dạy tiếng đều chịu ảnh hưởng của tư tưởng này.Có thể thấy rõ thực tế này ở cả hoạt động dạy tiếng Việt cho người Việt (bản ngữ) và cho người nước ngoài( ngoại ngữ).

Chỉ số phân loại DDC:400
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

3. Vai trò của câu hỏi trong tương tác hội thoạiTác giả: Nguyễn Thị Mai
Nguồn trích: Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 5(187), 2011
Trang: 15-20
Tóm tắt nội dung: Trong quá trình hành chức, ngôn ngữ được hiện thực hóa thành những lời nói cụ thể mà mỗi lời nói như thế, vốn chứa một hay nhiều hành vi ngôn ngữ, có giá trị như một công cụ để các nhân vật giao tiếp tương tác lẫn nhau.Giao tiếp ngôn ngữ chẳng những giúp những cá nhân sử dụng nó thu hẹp được sự cách biệt (nguồn gốc xuất thân, địa phương sinh sống, kinh nghiệm, kiến thức...) mà còn giúp họ mở rộng được bức tranh chung về thế giới. Chính hai yếu tố ngôn ngữ và phi ngôn đã quyết định nội dung (thông tin, liên quan) và hình thức của giao tiếp, biến giao tiếp thành hoạt động thực hiện chức năng tương tác trên cả 3 mặt nhận thức, tình cảm và hành động của con người. Liên quan đến giao tiếp, bài viết này trình bày vai trò của câu hỏi trong tương tác hội thoại.

Chỉ số phân loại DDC: 400
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

4. Tìm hiểu ý nghĩa, nguồn gốc và nét văn hóa trong một số thành ngữ so sánh tiếng Anh và tiếng ViệtTác giả: Đinh Ngọc Thủy
Nguồn trích: Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 5(187), 2011
Trang: 21-25
Tóm tắt nội dung: Thành ngữ không chỉ là đơn vị ngôn ngữ mà còn là đơn vị ngôn ngữ - văn hóa.Cho đến nay, từ những góc độ khác nhau, cũng giống như từ,thành ngữ thuộc lớp đơn vị mở trong thực tế sử dụng. Nét đặc trưng của thành ngữ là có tính biểu trưng, hình tượng, gợi hình và biểu cảm. Vì thế, thành ngữ không chỉ có tác dụng làm cho lời văn hay, hình tượng đẹp, mà còn có tác dụng diễn tả ý tưởng một cách cụ thể và sâu sắc.Thành ngữ nói chung và thành ngữ so sánh nói riêng mang nhiều nét tiêu biểu cho cái tinh hoa, bản sắc của dân tộc. Việc phân loại và tìm hiểu các thành ngữ của tiếng Anh đối chiếu cới tiếng Việt cho thấy những điểm chung và khác biệt khá rõ rệt giữa hai nền văn hóa. Lối ví von cho thấy óc quan sát nhạy bén cũng như văn hóa của 2 dân tộc mà người học tiếng Anh và tiếng Việt nên tìm hiểu để không những thông thạo về nghĩa, mà còn ngữ cảnh sử dụng, cách dịch thuật và qua đó biết thêm về đất nước, con người cũng như những cái hay toát lên từ các giá trị văn hóa, cũng như góp phần làm tăng hiệu quả trong giao tiếp.

Chỉ số phân loại DDC: 400
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

5. Một số lỗi thường gặp về trật tự từ ở người Việt học tiếng Hán hiện đại
Tác giả: Phan Thị Thanh Thủy
Nguồn trích: Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 5(187), 2011
Trang: 26-28
Tóm tắt nội dung: Không kể giai đoạn trước, trong vài thập niên trở lại đây, bên cạnh tiếng Anh, tiếng Hán hiện đại( THHĐ) ngày càng được sử dụng rộng rãi do nhu cầu phát triển về văn hóa, kinh tế, giáo dục... Đối với nhiều người Việt, khi mới học THHĐ, cảm nhận đầu tiên của họ là chỉ khó nhận biết mặt chữ, còn từ loại, cấu trúc câu và hoạt động cú pháp lại tương đối dễ tiếp thu do chúng có nhiều đặc điểm giống với tiếng Việt.Tuy nhiên, trên thực tế, cảm nhận chủ quan này đã khiến nhiều học viên người Việt mắc các lỗi về cú pháp do dùng sai hoặc hiểu sai về trật tự từ. Từ thực tế học tập, nghiên cứu và giảng dạy, qua bài viết này tác giả muốn nêu lên một số lỗi thường gặp về trật tự từ mà bản thân thu thập được.

Chỉ số phân loại DDC: 495.1
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

6. Vị thế giao tiếp và việc dùng động từ trao nhận trong tiếng Nhật
Tác giả: Đào Thị Hồng Hạnh
Nguồn trích: Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 5(187), 2011
Trang: 29-32
Tóm tắt nội dung: Trong mấy thập niên gần đây, mối quan hệ giữ ngôn ngữ và văn hóa được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Đặc biệt trong việc giảng dạy và học tập ngoại ngữ, những yếu tố văn hóa qua ngôn ngữ ngày càng được chú ý nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng ngoại ngữ. Bởi lẽ, có khá nhiều trường hợp chúng ta không thể bình giải nghĩa của từ thuần túy dưới góc độ ngôn ngữ học. Tiếng Nhật là ngôn ngữ giàu tính văn hóa. Mỗi khi sử dụng một từ, một dạng thức ngữ pháp, người dùng phải cân nhắc, tính toán đến nhiều yếu tố bên ngoài ngôn ngữ như điều kiện giao tiếp, mối quan hệ đa diện phức tạp với người tham gia giao tiếp hay người được nói đến... Các yếu tố văn hóa quy định việc sử dụng các động từ mang nghĩa trao nhận được thể hiện rất rõ ràng và tinh tế trong tiếng Nhật.

Chỉ số phân loại DDC:495.6
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

7. Nghe trực tiếp Bác Hồ dạy cách ăn - học
Tác giả: Bùi Hiển
Nguồn trích: Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 5(187), 2011
Trang: 33-34
Tóm tắt nội dung: Có thể khẳng định mạnh mẽ và chắc chắn rằng toàn bộ cuộc đời của Bác, từ lời nói đến hành động ở mọi nơi mọi lúc, luôn luôn thể hiện một nhân cách thật Việt Nam, thật Phương Đông và cũng thật sáng ngời hình ảnh Con Người của nhân loại tương lai, mà chỉ cần mỗi người chúng ta chịu khó suy ngẫm nghiêm túc một chút là đều có thể tiếp thu được từ Người một bài học bổ ích nào đó. Bài viết này kể lại hai cử chỉ đời thường của Bác nhưng đã trở thành những bài học tâm niệm suốt cuộc đời hoạt động giáo dục ngôn ngữ Nga của tác giả.

Chỉ số phân loại DDC: 400
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

8. Hành động giễu nhại trong thơ hậu hiện đại
Tác giả: Đặng Thị Hảo Tâm
Nguồn trích: Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 5(187), 2011
Trang: 35-41
Tóm tắt nội dung: Ở Việt Nam, trong khoảng 10 năm trở lại đây, thuật ngữ “hậu hiện đại” xuất hiện nhiều trong các chuyên khảo phê bình khi bàn về một số hiện tượng văn học có tính tiêu cực. Đó là những sáng tác đã đi lệch rất xa khỏi quỹ đạo truyền thống. Chúng hiện diện như là sự khiêu khích, thách thức đối với những quan niệm đã có về thơ ca. Điểm nổi bật ở những sáng tác này là giọng điệu giễu nhại. Khi tạo ra giọng điệu giễu nhại,nhà thơ hậu hiện đại cũng tạo nên hành động giễu nhại, vậy hành động giễu nhại được tạo lập bằng cách nào. Nguồn ngữ liệu được dùng để khảo sát cho bài viết bao gồm các sáng tác bằng tiếng Việt được đăng tải trên các website văn học nghệ thuật và những tác phẩm được xuất bản bởi Hội Nhà Văn.

Chỉ số phân loại DDC: 400
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

9. Cách nói của người miền Tây Nam Bộ qua ca daoTác giả: Trần Minh Thương
Nguồn trích: Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 5(187), 2011
Trang:42-48
Tóm tắt nội dung: Hầu hết các nhà văn hóa học, dân tộc học... đều có chung nhận định tương đối thống nhất về tính cách người Nam Bộ. Họ là những người hào hiệp trong cuộc sống, bình đẳng trong giao tiếp, ít bảo thủ, nói chuyện thì ăn ngay nói thẳng, ghét ăn gian nói dóc. Tiếng nói không dừng lại ở chức năng kể lể, truyền đạt mà đối với họ nói còn là nghệ thuật. Độc đáo hơn chính từ lớp khẩu ngữ mộc mạc ấy, đi vào lời ngâm, câu hò, điệu lý..., hình thành nên những vần ca dao – một thể loại trữ tình dân gian. Khám phá từ đây, phần nào chúng ta nhận thấy được bản tính của người bình dân miền đất Cửu Long giang.

Chỉ số phân loại DDC: 400
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

VI.Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
1."Làng đỏ" trong phong trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh và việc lưu giữ các di tích “làng đỏ” ở Nghệ Tĩnh

Tác giả: Ngô Đăng Tri
Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2(418), 2011
Trang:3-11
Tóm tắt nội dung: Cao trào cách mạng 1930-1931 và Xô Viết Nghệ - Tĩnh là một sự kiện lớn của lịch sử Đảng Cộng sản và cách mạng Việt Nam . Việc lưu giữ các kí ức về sự kiện đó, nhất là về các “làng đỏ”, đã và đang được Đảng, Nhà nước Việt Nam và các Đảng bộ, chính quyền hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh thường xuyên quan tâm. Gía trị lịch sử của phong trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh nói chung, về các “làng đỏ” nói riêng rất cần được nghiên cứu, lưu giữ, phát huy tốt hơn nữa, nhằm phục vụ công tác giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho nhân dân, phục vụ sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế, phát triển đất nước bền vững hiện nay và lâu dài về sau.

Chỉ số phân loại DDC: 959.7
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

2. Về một tổ chức yêu nước chống Pháp ở huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An năm 1908 (qua tài liệu lưu trữ)Tác giả: Dương Thị Thanh Hải
Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2 (418), 2011
Trang:12-18
Tóm tắt nội dung: Nghệ An là vùng đất có truyền thống yêu nước và cách mạng, nơi có nhiều đóng góp quan trọng cho cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trong phong trào yêu nước chống thực dân xâm lược đầu thế kỷ XX, nhân dân các dân tộc nơi đây đã góp phần vào cuộc đấu tranh của cả nước như các phong trào Duy Tân, Đông Du, Đông kinh nghĩa thục và phong trào chống sưu thuế năm 1908...Qua các tài liệu báo cáo của các Công sứ tỉnh Nghệ An năm 1908, nội dung đề cập đến một tổ chức chống chính quyền thực dân ở địa bàn huyện Nghĩa Đàn, về mối quan hệ của tổ chức này với hoạt động của Phan Bội Châu, Đội Quyên và thậm chí còn có quan hệ đặc biệt với Đề Thám ở Bắc Kỳ... Tổ chức này không có tên gọi nhưng thực dân Pháp gọi là Hội kín.Hoạt động của tổ chức đã phản ánh mối quan hệ trong các phong trào yêu nước, duy tân và giải phóng dân tộc giữa các huyện miền núi và miền xuôi ở tỉnh Nghệ An với phong trào đấu tranh của cả nước cùng thời kỳ.

Chỉ số phân loại DDC: 959.7
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

3. Về mối quan hệ giữa “Hoàng Việt luật lệ” và “ Đại Thanh luật lệ”
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Thủy
Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2(418), 2011
Trang:19-29
Tóm tắt nội dung: “Hoàng Việt luật lệ” là bộ luật thành văn của triều Nguyễn – triều đại quân chủ cuối cùng ở Việt Nam. Mối quan hệ giữa “Hoang Việt luật lệ” với các bộ luật khác trong lịch sử chế độ quân chủ ở Việt Nam cũng như với các bộ luật ở Trung Hoa( nhất là luật nhà Thanh) đã được nhiều học giả trong và ngoài nước tìm hiểu trên những góc độ khác nhau.Bài viết này nêu lên mối quan hệ giữa “Hoàng Việt luật lệ” của nhà Nguyễn với “Đại Thanh luật lệ” của nhà Thanh, trên cơ sở khảo cứu một cách cụ thể văn bản của hai bộ này( từ cấu trúc bộ luật đến số lượng, tên gọi điều luật, điều lệ) để hi vọng có được cái nhìn khách quan hơn đối với “Hoàng Việt luật lệ”.

Chỉ số phân loại DDC: 959.7
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

4. Hoạt động buôn bán ngựa và chính sách kinh dinh của nhà Lý ở khu vực Tây BắcTác giả: Phạm Lê Huy
Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2 (418), 2011
Trang: 30-44
Tóm tắt nội dung: Trong khoảng 10 năm trở lại đây, nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, đặc biệt là các học giả nước ngoài đã công bố một số công trình nghiên cứu liên quan đến các hoạt động kinh tế tại Giao Chỉ - Đại Việt, chủ yếu trong giai đoạn thế kỷ X – XV. Những công trình nghiên cứu này có ý nghĩa rất quan trọng, giúp chúng ta đánh giá lại vai trò và vị trí của Việt Nam trong mạng lưới thương mại khu vực thời kì tiền cận đại.Bài viết này đã tập hợp, phân tích các nguồn sử liệu liên quan đến hoạt động buôn bán ngựa tại khu vực Tây Bắc từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XII. Thông qua đó bài viết phác họa nên một bức tranh rõ nét hơn về hoạt động chính trị - kinh tế ở khu vực này từ thời thuộc Đường đến thời Lý, đồng thời làm rõ hơn các chính sách của vương triều Lý trong công cuộc kinh dinh khu vực Tây Bắc.

Chỉ số phân loại DDC: 959.7
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

5. Gạo và thuốc phiện: nghiên cứu về hoạt động mậu dịch của người Hoa ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX
Tác giả: Dương Văn Huy
Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2(418), 2011
Trang:45-62
Tóm tắt nội dung: Nửa đầu thế kỷ XIX là giai đoạn lịch sử đầy những biến đổi về mặt kinh tế - xã hội. Hoạt động thương mại, nhất là hoạt động ngoại thương vẫn diễn ra và được sự khuyến khích từ phía chính quyền trung ương. Đồng thời, cùng với sự thất bại của các thương nhân phương Tây trong hoạt động mậu dịch với nhà Nguyễn và sự thất bại của người Việt trong các hoạt động thương mại với thị trường Trung Quốc. Người Hoa đã trở thành một lực lượng quan trọng, nắm giữ các hoạt động mậu dịch quan trọng của Việt Nam kể cả nội thương và ngoại thương, nhất là trong các hoạt động mậu dịch giữa Việt Nam và Trung Quốc. Với chính sách ưu ái của chính quyền nhà Nguyễn, người Hoa đã thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực kinh doanh thương mại của Việt Nam . Bên cạnh đó, họ cũng tham gia tích cực vào việc buôn bán hai mặt hàng cực kì quan trọng và nhạy cảm của thời kỳ này đó là gạo và thuốc phiện.Xuất gạo đi nhập thuốc phiện về là một trong những hoạt động kinh daonh đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho Hoa thương ở Việt Nam thời kì này.

Chỉ số phân loại DDC: 959.7
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

6. Về quê quán, thân thế của tiến sĩ Nguyễn Cấu qua gia phả dòng họ và di tích – đôi điều cần trao đổiTác giả: Nguyễn Đình Hưng
Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2(418), 2011
Trang: 63-67
Tóm tắt nội dung: Tra cứu tư liệu trên mạng Internet vào mục của Viện nghiên cứu Hán nôm ở phần Văn khắc Hán nôm, có trang viết về bia Văn Miếu – Hà Nội có bài: Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Qúy Mùi niên hiệu Quang Thuận năm thứ 4( 1463) đăng toàn văn nội dung bài văn bia và ảnh chụp của khoa thi Tiến sĩ năm Qúy Mùi(1463). Cũng tại phần chú thích trong bài này ở trang 5, số thứ tự số 40 có ghi Tiến sĩ Nguyễn Cấu (? -?) người xã Khuông Lễ, huyện Tân Phúc( nay thuộc huyện Sóc Sơn – Hà Nội). Vấn đề muốn trao đổi trong bài này là quê quán, thân thế và sự nghiệp của Tiến sĩ Nguyễn Cấu qua việc sưu tầm tư liệu và di tích với quý bạn đọc để cùng nghiên cứu và tham khảo.

Chỉ số phân loại DDC:959.7
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

7. Đồn điền Nam Kỳ thời Pháp thuộc cuối thế kỷ XIX đến năm 1924
Tác giả: Nguyễn Phan Quang
Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2(418), 2011
Trang: 68-76
Tóm tắt nội dung: Suốt hơn 70 năm (từ những thập niên cuối thế kỷ XIX đến trước khi Phát xít Nhật vào Đông Dương), chính quyền thực dân Pháp ở Nam Kỳ đã hoàn tất việc chiếm đoạt ruộng đất dưới nhiều hình thức, biện pháp được quy định qua hàng loạt thông tri, nghị định liên tiếp được ban hành. Đúng như nhận xét của tác giả Nguyễn Khắc Vịên (“ Vietnam, une longue histore”- Hanoi 1987): chính quyền thực dân tạo mọi điều kiện thuận lợi, thậm chí khuyến khích các cá nhân và công ty thực dân chiếm đoạt những vùng đất phì nhiêu. Nói riêng trên địa bàn Nam Kỳ, việc đào đắp hệ thống tưới tiêu cho đồng bằng sông Cửu Long tạo thêm điều kiện cho bọn thực dân địa phương và tham chức người Việt cướp chiếm những diện tích công sản rộng mênh mông.

Chỉ số phân loại DDC: 959.7
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

VII. Tạp chí Nội thất, 2011, số 134
Tóm tắt nội dung: 
Nội Thất số 134 là một số báo khá đặc biệt- hiểu theo nghĩa có những công trình khá đặc biệt được giới thiệu trong số này. Trước hết là một công trình văn hóa tư nhân, được họa sĩ trẻ bỏ nhiều công sức và tâm huyết đầu tư, gầy dựng trong nhiều năm tại một vùng đồng bào Mường tỉnh Hòa Bình, cách Hà Nội không xa lắm về hướng Tây Nam theo quốc lộ 6 – nơi từ lâu được biết đến với công trình thủy điện lớn nhất nước. Cái “Không gian văn hóa Mường “này thực chất là một bảo tàng nhưng là một bảo – tàng – sống- động,nơi khách tham quan ngoài việc tìm hiểu hiện vật và kiến trúc bản địa còn có thể hòa vào cuộc sống của một vùng văn hóa lâu đời.
Ngược lại với Bảo tàng Văn hóa Mường là ba công trình đương đại đều thể hiện ý tưởng và thiết kế độc đáo, hai trong số đó là các văn phòng làm việc mà mục tiêu của nhà thiết kế ( và cả chủ đầu tư) không chỉ tạo ra cảm hứng sáng tạo, nâng cao hiệu suất công việc mà còn nhằm kết nối đội ngũ nhân viên như những thành viên của một gia đình dù cách làm mỗi nơi một khác. Công trình còn lại thuộc một loại hình chưa được giới thiệu nhiều trên Nội Thất: phòng karaoke; ở đây những ý tưởng sáng tạo lóe sáng bất ngờ của kiến trúc sư đã khơi nguồn cho một loạt thiết kế nội thất táo bạo và đầy ấn tượng. Những dòng tự sự của nhà thiết kế cũng là một cách sáng tạo khi thể hiện nội dung bài viết về công trình này.
Tiếp tục mục Bạn đọc tự giới thiệu, số này là một căn nhà phố ở thành phố biển Đà Nẵng - tổ ấm hạnh phúc của một gia đình trẻ, được thiết kế và sử dụng vật kiệu hợp lý để tạo không gian và hình thức kiến trúc sống động. Cũng tìm được giải pháp chống nắng hướng Tây hiệu quả như ngôi nhà ở Đà Nẵng, căn nhà phố có diện tích khiêm tốn tại thành phố Hồ Chí Minh có được những tìm kiếm thú vị của người thiết kế.
Ở mảng căn hộ chung cư vốn rất “nóng” ở các đô thị lớn, Nội Thất số này đến với hai căn hộ cao cấp ở Hà Nội và một ở Sài Gòn. Nếu hai công trình trước cho thấy năng lực của một nhà thiết kế nước ngoài để thỏa mãn nhu cầu sống của những gia đình trẻ có thu nhập cao, thì căn hộ 38m2 ở Tp.Hồ Chí Minh là một ví dụ về cách sắp đặt, bài trí không gian sống tiện nghi và thẩm mỹ vậy.

Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

VIII. Tạp chí Làm bạn với máy tính, 2011, số 405
Trong số này gồm:
- Hai website giúp bạn kiếm tiền từ việc chia sẻ video (2)
- Live go: truy cập nhiều mạng xã hội và email từ một cửa (3)
- Khắc phục các trục trặc với khoảng cách dòng trong Word 2010 (6)
- Sáu thủ thuật hay cho VLC Media Player (8)
- Gửi 50 tin nhắn miễn phí mỗi ngày đến 14 quốc gia (9)
- Duyệt web theo nhóm tab trong Firefox 4 (10)
- Thị trường phần cứng trong tuần – Mẹo vặt (11)
- Blog tạp ghi : vui học từ cựng tiếng Anh tại vocabgenii.com (14)
- Kiểm tra một địa chỉ email có tồn tại hay không (18)
- TotalRecall: Ghi âm cuộc gọi đến điện thoại Symbian – Wifi File Explorer: Copy dữ liệu từ PC sang Android bằng wifi (19)
- Phiên chợ @ - Game Eco Challenger (20)
- Khắc phục lỗi không thể đính kèm dữ liệu trong Gmail (21)
- MoveOnBoot: Xử lý các file, thư mục bị khóa bởi windows (22)
 
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

IX. Tạp chí Thuế Nhà nước, 2011, số 18(328)
Trong số này gồm:
- Mục Tin tức – sự kiện: Tin tức (2); Hội nghị thường niên ADB lần thứ 44: giải quyết nhiều vấn đề “ nóng” của khu vực (4); Vinh dự càng lớn, trách nhiệm càng cao (5).
- Mục Nghiên cứu trao đổi: Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2020. Phát huy vai trò nghiệp vụ tổng hợp (6); E – service: dịch vụ điện tử phục vụ người nộp thuế (8).
- Mục Thực tiễn kinh nghiệm: Giải quyết tranh chấp, tố tụng về thuế tại TP HCM: Tòa án bác bỏ 85% số vụ kiện (9); Thu thuế nhà đất kì I ở Tp Yên Bái: Tuyên truyền ,vận động là chính (10);Thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ:Quảng Nam phấn đấu thu vượt dự toán (12)
- Mục Diễn đàn doanh nghiệp: Phát triển thị trường chứng khoán phái sinh nhà đầu tư sẽ được bảo vệ tốt hơn( 14); Siết chặt tín dụng bất động sản( 16); Hỗ trợ kinh tế tập thể về vốn, lao động và công nghệ (18); Giảm chi phí, đơn giản hóa thủ tục thuế để hỗ trợ XK(19); Giải pháp gia tăng nguồn cung ngoại tệ. Đề xuất của VAFI (20); Kiềm chế lạm phát và bão giá: cần có giải pháp đồng bộ. Bài 2: hai vấn đề đặt ra( 22); Doanh nghiệp cần biết (25)
- Mục Kinh tế - Xã hội: Kinh tế 4 tháng đầu năm: Công nghiệp và xuất khẩu có dấu hiệu khả quan (27)
- Mục Chính sách mới: Thông tư số 47/2011/TT-BTC ngày 07/04/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung về thuế GTGT đối với hoạt động SXKD( 29).

Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

X. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán
1. CPI tháng 4 tăng rất cao
Tác giả: PV
Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán, 2011, số 5(94)
Trang:3-4
Tóm tắt nội dung: Mặc dù thị trường vàng và thị trường ngoại tệ sau hai tháng thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ đã có chuyển biến tích cực (giá vàng trong nước tăng chậm và ở mức thấp hơn giá vàng thế giới; thị trường ngoại tệ tự do bị thu hẹp, chênh lệch tỷ giá giữa thị trường tự do và thị trường chính thức đã giảm mạnh từ mức trên 2 nghìn đồng/USD xuống còn 3-4 tăm đồng/USD nhưng việc kiềm chế lạm phát chưa được như mong muốn, trái lại vẫn còn ở mức cao.

Chỉ số phân loại DDC: 332
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

2. Ngành Hải quan: góp phần tiết kiệm chi tiêu côngTác giả: Thu Trang
Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán, 2011, số 5(94)
Trang: 5, 4
Tóm tắt nội dung: Tổng cục Hải quan cho biết, toàn ngành đang triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ, trong đó việc tiết kiệm chi thường xuyên, chi đầu tư công đã thu được kết quả bước đầu. Nhiều cục Hải quan tỉnh, thành phố đã tiến hành giao ước thi đua, có kế hoạch giảm chi phí trong năm 2011 lên đến hàng tỷ đồng.

Chỉ số phân loại DDC: 332
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

3. Rủi ro trong hội nhập kinh tế tác động đến an ninh Tài chính Quốc gia
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hà
Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán, 2011, số 5(94)
Trang: 6-9
Tóm tắt nội dung: An ninh Tài chính Quốc gia là duy trì sự ổn định,an toàn và vững mạnh của thu chi ngân sách Nhà nước, giữ thâm hụt ngân sách Nhà nước ở mức hợp lý, đảm bảo cân đối tài chính cho các quỹ ngoài ngân sách, kiềm chế nợ Chính phủ ở mức độ an toàn và duy trì khả năng trả nợ, không lâm vào tình trạng vỡ nợ. An ninh Tài chính Quốc gia bao hàm an ninh trên ba lĩnh vực: tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp và tài chính dân cư.

Chỉ số phân loại DDC: 332
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

4. Tín dụng chính sách qua ngân hàng Chính sách xã hội Việt NamTác giả: Nguyễn Trọng Thản
Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán, 2011, số 5(94)
Trang: 10-13
Tóm tắt nội dung: Phát triển kinh tế đi đôi với xóa đói giảm nghèo là chủ trương nhất quán của Đảng ta trong quá trình đổi mới và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính sách tín dụng ưu đãi cho người nghèo, vùng nghèo đã được thành lập ở nước ta ngay từ ngày thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ( năm 1951) và đã trở thành công cụ xóa đói giảm nghèo cơ bản và bền vững. Ngày 04/10/2002, Chính phủ đã ban hành nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác và Thủ tướng Chính phủ đã kí Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg về việc thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội( NHCSXH) trên cơ sở tổ chức lại ngân hang người nghèo, tách khỏi Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

Chỉ số phân loại DDC: 332
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

5. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay
Tác giả: Bùi Phụ Anh
Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán, 2011, số 5(94)
Trang: 14-16
Tóm tắt nội dung: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát là bài toán luôn được bàn đến của Chính phủ về các Bộ , ngành nhưng cũng khó giải nhất đối với tất cả các nền kinh tế, kể cả nền kinh tế thị trường phát triển. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.

Chỉ số phân loại DDC: 332
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

6. Hoạt động của các Tập đoàn kinh tế - Khuyến nghị từ thực tiễnTác giả: Vũ Anh Tuấn
Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán, 2011, số 5(94)
Trang: 17-20
Tóm tắt nội dung: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3( khóa IX) đã ghi rõ: Hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty Nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế,kinh doanh đa ngành, trong đó có cả ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân, có quy mô rất lớn về vốn, hoạt động cả trong nước và ngoài nước, có trình độ công nghệ cao và quản lý hiện đại, đào tạo, nghiên cứu, triển khai với sản xuất kinh doanh. Thí điểm hình thành tập đoàn kinh tế trong một số lĩnh vực có điều kiện, có thế mạnh, có khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả.

Chỉ số phân loại DDC: 332
Nơi lưu trữ: Kho Báo – Tạp chí (BTC) – TTTT-TV

7. Hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của các Kiểm toán Nhà nước khu vực
Tác giả: Đoàn Xuân Tiên
Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán, 2011, số 5(94)
Trang: 21-24
Tóm tắt nội dung: Từ khi Kiểm toán Nhà nước (KTNN) được thành lập đến nay (1994), hệ thống các KTNN khu vực( KTNNKV) trực thuộc KTNN phát triển mạnh cả về tổ chức và hoạt động. Đến nay đã có 9 KTNNKV và theo chiến lược phát triển KTNN đến năm 2020 được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội phê duyệt thì giai đoạn 2011-2015 sẽ là 13 KTNNKV và năm 2020 là 15 KTNNKV. Mô hình tổ chức và hoạt động của các KTNNKV ngày càng kiện toàn, từng bước hoàn thiện đồng bộ hơn; đội ngũ công chức, Kiểm toán viên (KTV) ngày càng phát triển, tích lũy được nhiều kinh nghiệm tốt, trình độ chuyên môn cao, kĩ năng nghiệp vụ chuyên nghiệp hơn, góp phần nâng cao năng lực