Bài trích trong Tạp chí Ngân hàng số 1 và 2 năm 2014
25 tháng 2, 2014 bởi
Bài trích trong Tạp chí Ngân hàng số 1 và 2 năm 2014
Trần Hữu Trung


1.Gánh nặng nợ công - Áp lực đối với chính sách tiền tệ/ Tô Kim Ngọc// Tạp chí Ngân hàng .- Số 1+2 .- 1/2014 .- Tr. 9 – 18. 
Trong mối quan hệ với chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách tài khóa (CSTK), quản lý nợ công không được coi là một chính sách độc lập, nó là một chính sách hỗ trợ và bị chi phối. Tuy vậy, ngay sau các cuộc khủng hoảng nợ công những năm 80 và 90 của thế kỷ trước, các nghiên cứu đã bắt đầu đề cập tới vai trò của quản lý nợ công như là một chính sách độc lập. Điều này được kiểm chứng và củng cố sau khủng hoảng nợ công châu Âu (BIS, 2012). Theo đó, CSTT, CSTK và chính sách quản lý nợ công có mục tiêu, công cụ riêng và có các tác động vĩ mô khác nhau, vì thế, mà yêu cầu phối hợp tạo ra một policy mix là cần thiết. Bài viết điểm qua những khía cạnh tác động (tiêu cực) của nợ công tới CSTT làm căn cứ để phân tích thực trạng gánh nặng nợ công Việt Nam cũng như áp lực của nó đối với thực tế vận hành CSTT của Việt nam hiện nay. Trên cơ sở đó, một số khuyến nghị chính sách cũng được đề cập ở phần cuối của bài viết.
Từ khóa :Chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, quản lý nợ công. 

2. Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam 2011 – 2013 và những vấn đề đặt ra/ Hạ Thị Thiều Dao// Tạp chí Ngân hàng .- Số 1+2 .- 1/2014 .- Tr. 25 – 30.
Bài viết tiến hành đánh giá tiến trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng ở Việt Nam diễn ra từ năm 2011 – 2013 và những vẫn đề đặt ra trong giai đoạn sắp tới, với những nội dung chính sau đây: 1) Giới thiệu đôi nét về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng; 2) Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2011 – 2013 và những vấn đề đặt ra.
Từ khóa: Tái cấu trúc, Ngân hàng, Ngân hàng Việt Nam.

3. Nâng cao quy định an toàn đối với tổ chức tín dụng và lộ trình thực hiện chuẩn mực Basel II tại Việt Nam/ Nguyễn Hữu Nghĩa// Tạp chí Ngân hàng .- Số 1+2 .- 1/2014 .- Tr. 36 – 39.
Bài viết đề cập đến việc nâng cao quy định an toàn cho hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) để phù hợp với yêu cầu phát triển một hệ thống các TCTD an toàn hơn theo hướng hội nhập quốc tế, với những nội dung: 1) Những qui định an toàn hiện nay đối với các TCTD của VN; 2) Một số định hướng trong việc nâng cao các qui định an cho hệ thống các TCTD ở VN; 3) Lộ trình thực hiện Chuẩn mực an toàn vốn Basel II tại Việt Nam.
Từ khóa: Quy định, Tín dụng, An toàn vốn, Basel II.

4. Tiến triển trong công tác phòng chống rửa tiền của Việt Nam năm 2013 / Nguyễn Văn Ngọc// Tạp chí Ngân hàng .- Số 1+2 .- 1/2014 .- Tr. 63 – 65.
Đánh giá công tác phòng, chống rửa tiền của Việt Nam năm 2013 cho thấy, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực trên nhiều hoạt động như: Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý; tăng cương năng lực cho các thể chế tham gia đấu tranh phòng, chống rửa tiền; thu thập, phân tích và chuyển giao thông tin liên quan đến rửa tiền, tài trợ khủng bố; công tác tuyên truyền, đào tạo; tăng cường mối quan hệ trong nước và quốc tế...Trong bài này, tác giả điểm lại một số thành tích nổi bật trong công tác phòng, chống rửa tiền của VN qua các hoạt động: Công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Nỗ lực của VN để thoát ra khỏi Danh sách đen của FATF; Kết quả thu thập, xử lý và chuyển giao thông tin về rửa tiền, tài trợ khủng bố.
Từ khóa: Phòng chống rửa tiền, rửa tiền, Việt Nam.

5. Đảm bảo an toàn tài chính trong hệ thống NHTM Việt Nam năm 2012 – 2013 và thách thức chính sách trong những năm tiếp theo/ Lê Thị Thùy Vân// Tạp chí Ngân hàng .- Số 1+2 .- 1/2014 .- Tr. 84 - 91.
An toàn tài chính của NHTM được hiểu là việc duy trì được sự ổn định (stability) và lành mạnh (soundness) tài chính trong hoạt động của ngân hàng, trên cơ sở đó, giảm thiểu và hạn chế được rủi ro hệ thống. Trong bài viết này, tác giả đã đánh giá an toàn tài chính của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong năm 2012 – 2013 dựa trên các khía cạnh chính gồm: (i) An toàn vốn (C); (ii) An toàn tín dụng/tài sản (A); (iii) An toàn thanh khoản/tiền gửi (L); (iv) Kết quả kinh doanh (E).
Từ khóa: Tài chính, ngân hàng Việt Nam, an toàn vốn.

6. Chất lượng dịch vụ toàn diện: Nghiên cứu khám phá về nhận thức của các nhà quản lý trong các ngân hàng thương mại ở Việt Nam/ Lê Thế Giới, Nguyễn Thị bích Thủy// Tạp chí Ngân hàng .- Số 1+2 .- 1/2014 .- Tr. 92 – 97.
Nghiên cứu này cung cấp hệ thống những kiến thức cơ bản về những yếu tố quan trọng nhất cho việc thực thi quản lý chất lượng toàn diện trong lĩnh vực dịch vụ, đồng thời trên cơ sở mô hình dịch vụ toàn diện đó, thực hiện nghiên cứu khám phá xây dựng mô hình các yêu tố thực hiện chất lượng dịch vụ toàn diện (TQS) (trên phương diện quản lý) trong lĩnh vực NHTM ở Việt Nam, đánh giá mức độ nhận thức của các nhà quản trị. Nghiên cứu sẽ đóng góp 1 sự thấu hiểu đầy đủ và hệ thống hơn cho các nhà quản trị trong hệ thống NHTM thực hiện quản trị chất lượng một cách toàn diện hơn, gia tăng hiệu quả cho ngân hàng.
Từ khóa: Dịch vụ , Chất lượng, ngân hàng thương mại, quản trị chất lượng, Việt Nam.

7. Tín dụng ngân hàng phục vụ cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn/ Nguyễn Thị Kim Thanh// Tạp chí Ngân hàng .- Số 1+2 .- 1/2014 .- Tr. 111 – 114.
Tín dụng ngân hàng đã tích cực đáp ứng nhu cầu vốn trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tuy nhiên, xét về tổng thể, tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trong những năm qua vẫn còn hạn chế: Việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng của doanh nghiệp, hộ gia đình và tiếp cận các dịch vụ tiện ích ngân hàng của người dân tại địa bàn nông nghiệp, nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa còn khó khăn, vướng mắc. Bài viết này điểm lại một số hoạt động tín dụng dành cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân và đưa ra bài học kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả đầu tư tín dụng cho lĩnh vực này.
Từ khóa: Tín dụng ngân hàng, nông nghiệp, nông thôn, nguồn vốn.

8. Một số giải pháp điều tiết dòng vốn tín dụng ngân hàng vào thị trường bất động sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh/ Đoàn Thanh Hà// Tạp chí Ngân hàng .- Số 1+2 .- 1/2014 .- Tr. 117 – 119.
Tín dụng ngân hàng đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của thị trường bất động sản cả nước nói chung cũng như thị trường bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Sự tăng giảm dòng vốn tín dụng từ hệ thống ngân hàng có quan hệ mật thiết với sự tăng giảm cung cầu và giá cả trên thị trường bất động sản. Do đó, một trong những nhóm giải pháp giúp thị trường bất động sản phát triển bền vững là điều tiết dòng vốn tín dụng ngân hàng vào thị trường này một cách linh hoạt và có hiệu quả. 
Từ khóa: Tín dụng ngân hàng, vốn tín dụng, bất động sản.

9. Kiều hối và tăng trưởng kinh tế - Nghiên cứu thực nghiệm các nước Asean-7 và trường hợp Việt Nam/ Nguyễn Minh Sáng, Ngô Nữ Diệu Khuê, Trần Thị Diễm// Tạp chí Ngân hàng .- Số 1+2 .- 1/2014 .- Tr. 120 – 127.
Kiều hối được xem là nguồn ngoại tệ quan trọng trong việc góp phần tăng vốn đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nước nhận kiều hối. Việt Nam là một trong những nước nhận được kiều hối lớn của thế giới. Năm 2011, lượng kiều hối chảy vào Việt Nam là gần 9 tỉ USD và thuộc top 20 nước nhận tiền kiều hối nhiều nhất thế giới (theo thống kê của World Bank). Tuy nhiên, liệu nguồn kiều hối đã được sử dụng hợp lý để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hay chưa và các biện pháp nào để nâng cao tính hiệu quả của việc sử dụng nguồn kiều hối? Muốn đề ra các chính sách phù hợp, cần phải nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và kiều hối. Bài viết này xác định tương đối mối quan hệ giữa kiều hối và tăng trưởng kinh tế, đồng thời tìm ra các vấn đề còn tồn tại được phản ánh qua mối quan hệ đó ở Việt Nam và đề ra một số gợi ý chính sách.
Từ khóa: Kiều hối, tăng trưởng kinh, chính sách kiều hối.

Trung tâm Thông tin - Thư viện