Bài trích trong Tạp chí Kinh tế và phát triển số 195 năm 2013
18 tháng 11, 2013 bởi
Bài trích trong Tạp chí Kinh tế và phát triển số 195 năm 2013
Trần Hữu Trung



 
1. Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Việt Nam theo khung tham chiếu của Hiệp ước Toàn cầu/ Nguyễn Văn Thắng// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 195 .- 9/2013 .- Tr. 3 - 9
Sự tăng trưởng nhanh chóng của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đã có đóng góp lớn vào sự phát triển của nền kinh tế trong những năm qua. Bên cạnh việc đảm bảo một môi trường kinh doanh thuận lợi , thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội cũng đang trở nên hết sức cần thiết cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Tuy nhiên, doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn khách quan và chủ quan trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội. Bài viết này trình bày một số kết quả phỏng vấn với lãnh đạo doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức phi chính phủ về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Sức ép cạnh tranh lớn, hệ thống giám sát cộng đồng còn yếu, cùng với nhận thức hạn chế của doanh nghiệp về lợi ích lâu dài đang là thách thức lớn của việc thực thi trách nhiệm xã hội.
Từ khóa: Trách nhiệm xã hội, hiệp ước toàn cầu, phát triển bền vững.
2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và cảm nhận của khách hàng - Nghiên cứu định tính trong ngành thức ăn chăn nuôi tại miền Bắc Việt Nam/ Nguyễn Hồng Hà, Nguyễn Thị Tuyết Mai// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 195 .- 9/2013 .- Tr. 10 - 17
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã được các học giả trên thế giới nghiên cứu từ khá lâu, nhưng các nghiên cứu ở Việt Nam dường như còn hạn chế, đặc biệt trên khía cạnh cảm nhận của khách hàng. Thông qua tiến hành nghiên cứu định tính, bằng việc phỏng vấn sâu nhóm các nhà quản lý và nhóm các khách hàng trong ngành thức ăn chăn nuôi, tác giả muốn tìm hiểu thực tiễn việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, cũng như khám phá những cảm nhận của khách hàng về hoạt động này. Phát hiện từ nghiên cứu cho thấy, hầu như các doanh nghiệp trong ngành đều ít nhiều triển khai các hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Đa số khách hàng đều cảm nhận việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong ngành là tương đối tốt, và các hệ quả của nó có được gồm danh tiếng của doanh nghiệp, niềm tin và sự hài lòng của khách hàng.
Từ khóa: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, ngành thức ăn chăn nuôi, nghiên cứu định tính, cảm nhận của khách hàng.
3. Lòng tin tổ chức - Một chỉ số quan trọng về năng lực doanh nghệp: Khảo sát so sánh ở các doanh nghiệp quốc tế và doanh nghiệp Việt Nam/ Nguyễn Mạnh Quân// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 195 .- 9/2013 .- Tr. 18 - 25
Lòng tin là một chủ đề được quan tâm nghiên cứu không chỉ trong lĩnh vực xã hội học mà còn trong các lĩnh vực quản lý kinh doanh, bởi nó không chỉ là một đề tài đầy thử thách mà còn vì nó là nhân tố quan trọng có ảnh hưởng quyết định đến việc xây dựng mối quan hệ con người. Kết quả nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của các yếu tố lòng tin trong tổ chức trong việc xây dựng năng lực hành động hiệu quả và khả năng đối đầu với thách thức trong khủng hoảng ở các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế toàn cầu. Bài báo này giới thiệu một công trình nghiên cứu được tiến hành ở 53 doanh nghiệp trên 8 quốc gia để xác định Chỉ số Lòng tin Tổ chức OTI và những phát triển được rút ra từ việc áp dụng nghiên cứu này đối với các doanh nghiệp Việt Nam.
Từ khóa: vốn xã hội, lòng tin, chỉ số lòng tin tổ chức (OTI).

4. Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử với sự thỏa mãn và lòng trung thành của khách hàng ở Việt Nam/ Trần Đức Thắng, Phạm Long// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 195 .- 9/2013 .- Tr. 26 - 33
Chất lượng dịch vụ là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của các ngân hàng. Để đạt được và duy trì lợi thế cạnh tranh trong thị trường dịch vụ ngân hàng điện tử, các ngân hàng cần phải xác định đâu là thước đo chất lượng dịch vụ khách hàng và tác động của nó lên chất lượng tổng thể dịch vụ, sự thỏa mãn và lòng trung thành của khách hàng. Bài viết này nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử với sự thỏa mãn và trung thành của khách hàng trong bối cảnh Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp cho các ngân hàng thương mại trong chiến lược kinh doanh của mình.
Từ khóa: chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử, sự thỏa mãn, lòng trung thành.

5. Tổ chức kiểm soát nội bộ đối với chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam/ Nguyễn Thị Phương Hoa, Nguyễn Tố Tâm// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 195 .- 9/2013 .- Tr. 34 - 41
Bài viết nghiên cứu về mối liên hệ giữa tổ chức kiểm soát nội bộ (KSNB) đối với thông tin kế toán tài chính (KTTC) của các công ty niêm yết (CTNY) trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, thông qua phần mềm SPSS đánh giá các thành phần trong tổ chức KSNB ảnh hưởng đến thông tin kế toán tài chính của CTNY trên TTCK Việt Nam. Nghiên cứu chỉ ra môi trường kiểm soát là nhân tố quan trọng trong tổ chức KSNB ảnh hưởng tới thông tin KTTC của CTNY trên TTCK Việt Nam.
Từ khóa: Chất lượng thông tin kế toán tài chính, tổ chức kiểm soát nội bộ, môi trường kiểm soát, công ty niêm yết, thị trường chứng khoán Việt Nam.

6. Tác động qua lại giữa kiểm toán nội bộ và nhà quản trị cấp cao: Lý thuyết và thực tiễn tại một số doanh nghiệp Việt Nam/ Phan Trung Kiên// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 195 .- 9/2013 .- Tr. 42 - 50
Nhà quản trị cấp cao mong muốn kiểm toán nội bộ (KTNB) hỗ trợ họ trong quá trình quản trị công ty, quản ly rủi ro và đạt được hiệu lực trong kiểm soát nội bộ. Thực tế, kiểm toán nội bộ tác động tới nhà quản trị cấp cao thông qua việc cung cấp sự đảm bảo về hiệu năng các quá trình quản trị, hiệu quả hoạt động và hiệu lực kiểm soát nội bộ đồng thời tư vấn cho nhà quản trị cấp cao để cải thiện hoạt động kiểm soát nội bộ, tham gia xác lập các mục tiêu và chính sách. Ngược lại nhà quản trị cấp cao tác động tới KTNB dưới góc độ tổ chức bộ máy kiểm toán và thực hiện hoạt động kiểm toán nội bộ trong đơn vị.
Từ khóa: Kiểm toán nội bộ, nhà quản trị cấp cao, tác động qua lại, tổng công ty xây dựng, ngân hàng thương mại.
7. Đổi mới sáng tạo tại các công ty đa quốc gia và gợi ý cho doanh nghiệp Việt Nam/ Trần Bích Ngọc, Trần Sĩ Lâm// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 195 .- 9/2013 .- Tr. 51 - 56
Các công ty đa quốc gia có vai trò và vị thế to lớn trong nền kinh tế thế giới. Sở dĩ có được điều này là do các công ty đó đã biết sử dụng một cách hiệu quả yếu tố công nghệ trong sản xuất kinh doanh và liên tục đổi mới công nghệ bằng các hoạt động đổi mới sáng tạo. Bài viết này tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ tại các công ty đa quốc gia. Đây là những hiểu biết cần thiết giúp cho các công ty đa quốc gia Việt Nam còn non trẻ và mới ra đời trong thời gian gần đây học tập để phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt trên phạm vi toàn cầu như hiện nay.
Từ khóa: chính sách công nghệ, chuyển giao công nghệ, công ty đa quốc gia, đổi mới sáng tạo, R&D.

8. Quản lý phát triển đô thị theo hướng tiếp cận quản trị tri thức ở Việt Nam/ Bùi Thị Hoàng Lan// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 195 .- 9/2013 .- Tr. 57 - 62
Tiếp cận quản trị cho phát triển các đô thị ở Việt Nam là sự cần thiết trong tình hình đô thị hóa mạnh mẽ, bối cảnh kinh tế toàn cầu và biến đổi khí hậu. Trong quá trình phát triển, yếu tố tri thức không ngừng đan xen và nảy nở trong mọi lĩnh vực của đời sống và phát triển đô thị bền vững cũng không nằm ngoài quy luật đó. Sự phát triển của đô thị Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn phát triển bền vững chú trọng cả bề rộng và bề sâu đòi hỏi quản trị đô thị phải thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức với công cụ hữu hiệu là quản trị tri thức để đạt được mục tiêu của các chủ thể tham gia phát triển đô thị bền vững trong nền kinh tế chuyển đổi. Bài viết tập trung phân tích vào bối cảnh cụ thể của các đô thị ở Việt Nam và gợi ý một số giải pháp nhằm khuyến khích phát triển cách tiếp cận này.
Từ khóa: tri thức, quản trị tri thức, phát triển đô thị, công nghệ thông tin, bền vững, chính quyền đô thị.
9. Dân số và nhóm dân số hoạt động kinh tế: Những tác động tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam/ Bùi Thị Minh Tiệp// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 195 .- 9/2013 .- Tr. 63 - 70
Bài viết này sử dụng phương pháp Tài khoản chuyển giao quốc dân để xác định nhóm dân số hoạt động kinh tế, đồng thời kết hợp với phương pháp toán học để đánh giá tác động yếu tố dân số đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Kết quả cho thấy: Nhóm dân số có đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam không phải tất cả dân trong tuổi lao động mà là nhóm dân số 22 - 53 tuổi. Yếu tố dân số đã đóng góp 1,2% cho tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1989 - 1999 và 1,58% giai đoạn 1999 - 2009. Tác động tích cực này giảm dần và sau năm 2019 tác động này là âm. Cụ thể, giai đoạn 2019-2029 biến đổi dân số làm giảm 0,56% tốc độ tăng trưởng kinh tế, và ở giai đoạn 2029-2039 làm giảm 0,68%. Như vậy, sau năm 2019, tăng trưởng kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào năng suất lao động.
Từ khóa: biến đổi dân số, dân số vàng, tăng trưởng kinh tế.
10. Thu nhập của nông hộ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Nhìn từ góc độ các yếu tố đầu vào của sản xuất/ Mai Ngọc Anh, Phạm Minh Đức// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 195 .- 9/2013 .- Tr. 71 - 78
Căn cứ vào mô hình Cobb-Douglas, bài viết này đi vào phân tích, so sánh thu nhập của những nhóm nông hộ ở Hải Phòng trên các tiêu chí mức độ dồi dào của các yếu tố đầu vào cho sản xuất. Bài viết chỉ ra rằng (1) nhân khẩu lao động, (2) diện tích đất cho sản xuất, (3) quy mô vốn, (4) trình độ khoa học công nghệ, (5) ngành nghề kinh tế, (6) tình trạng di cư tìm việc làm của lao động, có tác động khác nhau đến thu nhập của nông hộ. 
Từ khóa: thu nhập, nhân khẩu, lao động, diện tích đất nông nghiệp, vốn, trình độ công nghệ, ngành nghề, di cư lao động.
11. Giá dịch vụ đại học trong tiến trình thực hiện tự chủ tài chính của các trường đại học công lập/ Vũ Minh Đức// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 195 .- 9/2013 .- Tr. 79 - 84
Chuyển đổi hệ thống học phí hiện tại sang áp dụng giá dịch vụ giáo dục là một trong những việc làm cần thiết trong tiến trình thực hiện tự chủ tài chính của các trường đại học công lập. Bài viết nhằm làm rõ một số khía cạnh về bản chất của dịch vụ giáo vụ giáo dục đai học (DVGDĐH) và giá DVGDĐH và sự cần thiết phải xác định giá dịch vụ đại học. Điểm quan trọng cần được nhấn mạnh là dịch vụ giáo dục là một loại hàng hóa với những đặc thù của nó đòi hỏi giá DVGDĐH cần được xác định một mặt như là giá của một loại hàng hóa được trao đổi trên thị trường. Mặt khác, giá DVGDĐH là giá của hàng hóa đặc biệt. Xác định giá DVGDĐH cần tuân thủ các nguyên tắc căn bản theo đó đảm bảo phản ánh được các yếu tố hình thành giá DVGDĐH.
Từ khóa: dịch vụ giáo vụ giáo dục đại học, giá dịch vụ giáo vụ giáo dục đại học, học phí.

 
Trung tâm Thông tin - Thư viện