Bài trích trong Tạp chí Kinh tế và phát triển số 193 và 194 năm 2013
18 tháng 11, 2013 bởi
Bài trích trong Tạp chí Kinh tế và phát triển số 193 và 194 năm 2013
Trần Hữu Trung

Kính mời độc giả tìm đọc tại Phòng đọc NCKH - Trung tâm Thông tin - Thư viện - Trường Đại học Dân lập Hải Phòng

1. Phục hồi và kích thích phát triển thị trường hàng hóa trong nước của Việt Nam hiện nay/ Hoàng Đức Thân// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 193 .- 7/2013 .- Tr. 3 - 8
Trong một thời gian khá dài, cả chủ thuyết và hành động thực tế của các doanh nghiệp Việt Nam chỉ tập trung vào thị trường nước ngoài, thị trường trong nước bị bỏ trống. Khi xuất khẩu bị hạn chế do khủng hoảng, các doanh nghiệp trở lại thị trường nội địa ở trạng thái bị động. Mặt khác, thị trường trong nước bị sụt giảm cả lượng và chất; Từ vị trí thị trường hấp dẫn nhất thế giới năm 2008, thị trường Việt Nam đã ra ngoài top 30 của thị trường hấp dẫn nhất thế giới năm 2012. Doanh nghiệp nước ngoài và hàng hóa nước ngoài đang lấn át; những ách tắc cho phát triển thị trường ngày càng trầm trọng; tư tưởng bảo hộ quay lại ... Do đó, cần phải có tư duy mới và giải pháp đồng bộ cho phát triển bền vững thị trường trong nước.
Từ khóa: Thị trường hàng hóa; Thị trường trong nước; Phục hồi thị trường.

2. Xuất khẩu gạo Việt Nam: Thức trạng và giải pháp/ Nguyễn Đình Luận// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 193 .- 7/2013 .- Tr. 9 - 14
Theo dự báo của VFA, với tình hình sản xuất lúa gạo như hiện nay, năm 2013 và những năm tiếp theo xuất khẩu gạo Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và chịu sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Trong phạm vi bài viết này tác giả phân tích và có một số đề xuất nhằm đảm bảo lợi ích của người nông dân sản xuất lúa cũng như mong muốn tạo thương hiệu cho gạo Việt Nam để khẳng định vị thế trên thị trường thế giới.
Từ khóa: Việt Nam, xuất khẩu gạo, thị trường gạo, lợi ích người nông dân.

3. Tác động của biến đổi khí hậu đến tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam và một số gợi ý chính sách/ Trần Thọ Đạt, Vũ Thị Hoài Thu// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 193 .- 7/2013 .- Tr. 15 - 21
Bài viết phân tích một số tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) đến tăng trưởng kinh tế nói chung, một số ngành/ lĩnh vực chủ chốt và đến phát triển ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp ứng phó với BĐKH trong thời gian tới. Bên cạnh đó, một số chương trình nghiên cứu về BĐKH, đặc biệt dưới góc độ kinh tế, cũng được đề xuất thực hiện nhằm bổ sung các thông tin khoa học cho việc ra quyết định về các chính sách ứng phó với BĐKH ở Việt Nam.
Từ khóa: biến đổi khí hậu, tăng trưởng, phát triển, giảm nhẹ, thích ứng.

4. Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp tại Tập đoàn dầu khí Việt Nam/Vũ Thị Ngọc Lan, Nguyễn Tiến Dũng// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 193 .- 7/2013 .- Tr. 23 - 28
Nghiên cứu chỉ ra và kiểm định tác động của các nhân tố nội tại doanh nghiệp tới cấu trúc vốn của các doanh nghiệp tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 yếu tố nội tại có tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Trong đó, các yếu tố "tăng trưởng", "quy mô", "mức độ liên quan đến lĩnh vực kinh doanh chính của ngành" có tác động thuận chiều tới cấu trúc vốn. Các yếu tố "mức độ rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp", và "thái độ không thích sử dụng vốn vay của các nhà điều hành doanh nghiệp" có quan hệ ngược chiều với cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Từ khóa: cấu trúc vốn, tập đoàn dầu khí Việt Nam.

5. Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước - Một số vấn đề về nguyên tắc và phương pháp tiếp cận/ Nguyễn Mạnh Quân// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 193 .- 7/2013 .- Tr. 29 - 35
Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là một chủ trương đầy thách thức, bởi cho đến nay đây là một đối tượng nghiên cứu gây nhiều tranh cãi nhất. Bài viết tập trung vào việc làm rõ thêm về nhận thức theo quan điểm quản lý đối với DNNN trong cơ chế thị trường, cũng như đề xuất một số phương hướng giải pháp cho quá trình tái cấu trúc DNNN ở Việt Nam.
Từ khóa: DNNN, tái cấu trúc, kiểm soát, sở hữu, quản lý, cổ phần hóa.

6. Triển khai quản trị quan hệ khách hàng - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho các doanh nghiệp ở Việt Nam/ Vũ Ngọc Xuân// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 193 .- 7/2013 .- Tr. 37 - 45
Trong thời đại cạnh tranh toàn cầu ngày càng cao hiện nay, ngày càng có nhiều tổ chức, doanh nghiệp nhận ra vai trò trung tâm của khách hàng. Vì vậy, các doanh nghiệp ngày càng đầu tư nhiều thời gian và nguồn lực để quản lý tốt hơn khách hàng của mình. Có nhiều dự án về quản trị quan hệ khách hàng (CRM) được các doanh nghiệp Việt Nam triển khai. Bài viết này đề cập đến việc triển khai quản lý quan hệ khách hàng tại các doanh nghiệp Hoa Kỳ và Thái Lan, thực trạng về CRM và rút ra bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Từ khóa: Quản trị quan hệ khách hàng (CRM), quản lý dự án quan hệ khách hàng, phần mềm quản lý quan hệ khách hàng, công nghệ điện toán đám mây.

7. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện liên kết doanh nghiệp - nông dân/ Hồ Quế Hậu// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 193 .- 7/2013 .- Tr. 46 - 53
Bài viết nhằm nhận dạng các yếu tố có ảnh hưởng đến kết quả liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân thông qua phương thức nông nghiệp hợp đồng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở Việt Nam, các yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến kết quả liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân là: một mức giá mua sản phẩm hợp lý cho nông dân, mức độ tin cậy doanh nghiệp của nông dân và cuối cùng là hiệu quả kinh tế của nông dân. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng liên kết doanh nghiệp - nông dân không thích hợp với mọi loại sản phẩm; chỉ những sản phẩm có tính chuyên biệt cao, sản phẩm mới, có thị trường tiêu thụ hẹp mới thích hợp với thể chế liên kết.
Từ khóa: Liên kết kinh tế, thể chế kinh tế, nông dân, doanh ngiệp.

8. Tình hình thực hiện bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam theo quyết định số 315/QĐ-TTg và một số ý kiến đề xuất/ Phạm Thị Định// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 193 .- 7/2013 .- Tr. 54 - 57
Bài viết tập trung phân tích tình hình triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp sau hơn một năm thực hiện Quyết định 315, tờ đó đưa ra một số ý kiến đề xuất để việc triển khai bảo hiểm nông nghiệp ở nước ta đạt được kết quả như mong đợi. 
Từ khóa: Bảo hiểm nông nghiệp, Quyết định 315/QĐ-TTg, Bảo hiểm nông nghiệp thí điểm giai đoạn 2011 - 2013.

9. Lao động nông thôn di cư ra thành thị - Thực trạng và khuyến nghị/ Nguyễn Đình Long, Nguyễn Thị Minh Phượng// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 193 .- 7/2013 .- Tr. 58 - 65
Vấn đề lao động nông thôn di cư ra thành thị và các khu công nghiệp tìm kiếm việc làm là vấn đề có tính xã hội, phụ thuộc khá lớn vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội cho mỗi quốc gia. Và không thể phủ nhận vai trò tích cực của làn sóng di cư lao động từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp (KCN) nhất là đối với các nước kinh tế chậm phát triển khi thu nhập và điều kiện sống còn có sự chênh lệch lớn giữa nông thôn và thành thị. Bài viết khái quát tình hình và nguyên nhân thúc đẩy lao động từ nông thôn ra thành thị, từ đó khuyến nghị chính sách tạo điều kiện để phát huy những mặt tích cực và hạn chế tiêu cực đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Từ khóa: Lao động nông thôn, di cư, khuyến nghị chính sách.

10. Các cách tiếp cận nguồn nhân lực trong tổ chức/ Ngô Quỳnh An// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 193 .- 7/2013 .- Tr. 66 - 72
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tổng quan tiến trình phát triển theo chủ đề của các cách tiếp cận khác nhau về nguồn nhân lực của tổ chức. Tác giả đề xuất phân loại các cách tiếp cận nguồn nhân lực tổ chức đã được tiến hành nghiên cứu hơn ba mươi năm qua trong lĩnh vực Quản lý nguồn nhân lực thành bốn cách tiếp cận chính, bao gồm: nguồn nhân lực hành vi, nguồn nhân lực tiềm năng vốn con người, nguồn nhân lực tri thức và nguồn nhân lực mối quan hệ. Những đánh giá về ý nghĩa của từng cách tiếp cận này trong các hoạt động liên quan đến quản lý nguồn nhân lực tổ chức cũng được đề cập tới. Từ những phát hiện tổng quan này, nhiều nội dung liên quan đến quản lý các nguồn nhân lực khác nhau trong tổ chức cần được nghiên cứu và thiết kế chiến lược; chương trình hoạt động phù hợp.
Từ khóa: nguồn nhân lực tổ chức, nguồn nhân lực hành vi, nguồn nhân lực vốn con người nguồn nhân lực tri thức, nguồn nhân lực mối quan hệ.

11. Giá trị cảm nhận của sinh viên về dịch vụ đào tạo văn bằng đại học thứ hai ở các trường đại học/Bùi Thị Thanh// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 193 .- 7/2013 .- Tr. 73 - 80
Nghiên cứu này nhằm khám phá và định vị các thành phần giá trị cảm nhận của sinh viên về dịch vụ đào tạo văn bằng đại học thứ hai ở các trường đại học. Dữ liệu khảo sát được thu thập từ 588 sinh viên đang theo học văn bằng đại học thứ hai ở các trường đại học tại TP. Hồ Chí Minh. Mô hình nghiên cứu đề xuất dựa trên nghiên cứu giá trị cảm nhận của Petrick (2002), của Sheth et al (1991) và kế thừa các kết quả nghiên cứu giá trị cảm nhận trong lĩnh vực dịch vụ đào tạo của LeBlanc và Nguyen (1999). Độ tin cậy và giá trị của thang đo được kiểm định bằng hệ số Crombach's alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA).
Từ khóa: giá trị cảm nhận, sinh viên, dịch vụ đào tạo văn bằng đại học thứ hai.



1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam - Những bất cập về chính sách và giải pháp thúc đẩy/ Đỗ Đức Bình// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 194 .- 8/2013 .- Tr. 3 - 9
Qua hơn 25 năm thực hiện Luật đầu tư nước ngoài (nay là luật đầu tư chung), nền kinh tế nước ta có những thay đổi đột biến về nhiều mặt, đặc biệt là kết cấu hạ tầng, số lượng và chất lượng hàng hóa xuất khẩu... Diện mạo của đất nước khang trang hơn, đời sống của dân cư được cải thiện nhiều hơn so với trước thời kỳ đổi mới. Tuy nhiên, trong những năm qua, do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, do những bất cập về chính sách thu hút FDI cũng như yếu kém trong quản lý nhà nước về đầu tư nói chung đã dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực và bức xúc trong dân cư. Bài viết này không đi vào đánh giá thành công mà chỉ tập trung làm rõ những bất cập, yếu kém chủ yếu trong thu hút FDI của Việt Nam và gợi mở một số hướng và giải pháp để hoàn thiện nhằm thu hút FDI có hiệu quả.
Từ khóa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài, Việt Nam.

2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào bất động sản và bất ổn kinh tế vĩ mô ở Việt Nam/ Lê Quốc Hội// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 194 .- 8/2013 .- Tr. 10 - 16
Trong những năm gần đây, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào kinh doanh bất động sản ở Việt Nam không ngừng gia tăng và trở thành lĩnh vực được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm nhiều nhất. Bên cạnh những tác động tích cực như góp phần gia tăng nguồn vốn và cải thiện hình ảnh cơ sở hạ tầng, FDI vào bất động sản ở Việt Nam đã góp phần gây ra những bất ổn kinh tế vĩ mô như làm gia tăng lạm phát, bất ổn tỷ giá, cán cấn thanh toán và hệ thống ngân hàng. Thực tế đó đòi hỏi Chính phủ cần thực hiện những giải pháp liên quan đến tăng cường kiểm soát dòng vốn FDI vào bất động sản, quản lý rủi ro tín dụng vào bất động sản cũng như hướng dòng vốn FDI vào những lĩnh vực thích hợp để vừa sử dụng có hiệu quả dòng vốn FDI vừa không gây ra những bất ổn kinh tế vĩ mô.
Từ khóa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài, bất động sản, bất ổn kinh tế vĩ mô.

3. Thực trạng bài toán nợ xấu/ Quách Mạnh Hào// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 194 .- 8/2013 .- Tr. 17 - 23
Bài viết chỉ ra thực trạng nợ xấu tại hệ thống ngân hàng Việt Nam là đáng lo ngại bởi tỷ lệ nợ xấu được công bố cho thấy rằng tính trung bình hoặc là 60% số ngân hàng đã đối mặt với rủi ro mất toàn bộ vốn hoặc toàn bộ hệ thống ngân hàng đã mất đi 60% vốn chủ sở hữu. Việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và đi kèm với đó là xử lý nợ xấu cần thiết phải nắm bắt được bản chất rủi ro thực sự của hệ thống ngân hàng hiện nay là dùng tiền người này trả cho người khác. Để làm được việc này thì cần thiết phải để cho các nguyên tắc thị trường chi phối mối quan hệ giữa rủi ro và kỳ vọng lợi nhuận. Giải pháp nên được thực hiện hiện mạnh mẽ và triệt để nên là chấp nhận đồng ý phá sản các ngân hàng yếu kém. Các giải pháp trong bài viết này được đưa ra trên cơ sở lấy ý kiến các chuyên gia bao gồm nhà nghiên cứu, hoạt động thực tiễn và thực thi chính sách.
Từ khóa: Nợ xấu, mô hình Ponzi, hệ thống ngân hàng Việt Nam.

4. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động công bố thông tin của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam/ Ngô Thu Giang, Đặng Anh Tuấn// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 194 .- 8/2013 .- Tr. 24 - 30
Bài báo phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động công bố thông tin (CBTT) của công ty niêm yết tại Thị trường chứng khoán Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy mối tương quan có nghĩa giữa đặc điểm công ty tới hoạt động CBTT của công ty niêm yết. Tuy nhiên, mức độ và chiều tác động giữa các đặc điểm là khác nhau. Hoạt động CBTT tốt hơn tại các công ty có sở hữu nước ngoài, có kết quả kinh doanh khả quan trong kỳ nghiên cứu, có sức sinh lời vốn chủ sở hữu cao và có sự độc lập trong quản lý giữa BGĐ và HĐQT. Các yếu tố khác là như tỷ trọng sở hữu nội bộ, năng lực sản xuất và sự phụ thuộc trong quản lý giữa BGĐ và HĐQT lại có tác động làm tiêu cực tới hoạt động CBTT của công ty niêm yết. Riêng đặc điểm niêm yết không có tác động đáng kể đến hoạt động CBTT của công ty niêm yết.
Từ khóa: Công bố thông tin, công ty niêm yết, thị trường chứng khoán, yếu tố tác động.

5. Về mô hình chuẩn mực - Chế độ kế toán của Việt Nam/ Nguyễn Công Phương// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 194 .- 8/2013 .- Tr. 31 - 37
Bài viết bàn về mô hình kế toán của Việt Nam. Dựa vào lý thuyết kế toán quốc tế, bài viết đã phân tích bản chất, mục đích của hai cách tiếp cận để hình thành hệ thống kế toán nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Kết quả phân tích cho thấy Việt Nam đã lựa chọn cách tiếp cận thận trọng thông qua lựa chọn mô hình "kép" để hình thành hệ thống kế toán bao gồm cả chuẩn mực và chế độ kế toán. Cách tiếp cận này là hợp lý nhằm đạt được mục đích hài hòa quốc tế và duy trì đặc thù quốc gia. Tuy nhiên, mô hình khác biệt này còn chưa phát huy hiệu quả thực sự, thể hiện ở tính thực tiến của chuẩn mực chưa cao. Thực tế này đặt ra vấn đề cần làm rõ hơn mô hình này để định hướng phát triển kế toán trong thời gian tới.
Từ khóa: Chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán, lựa chọn mô hình kế toán.

6. Đo lường mức độ sẵn lòng chi trả của hộ gia đình để cải thiện chất lượng môi trường tại thành phố Vĩnh Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc/ Đinh Đức Trường, Lê Hà Thanh// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 194 .- 8/2013 .- Tr. 38 - 48
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên để xác định mức độ sẵn lòng chi trả của hộ gia đình cho việc kết nối vào hệ thống thoát nước thải đô thị tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Kết quả nghiên cứu cho thấy: các hộ gia đình sẵn lòng chi trả để cải thiện chất lượng môi trường với mức độ đóng góp trung bình từ 100.000 đồng đến 157.000 đồng/ 1 hộ/ 1 tháng trong vòng 2 năm để kết nối vào hệ thống thoát nước đô thị. Để khuyến khích sự đóng góp của người dân, các cơ chế tài chính như Qũi môi trường cần phải được thiết lập để chuyển hóa "sẵn sàng chi trả" của người dân thành " thực tế chi trả".
Từ khóa: Mức độ sãn lòng chi trả, hệ thống thoát nước thải đô thị, đánh giá ngẫu nhiên.

7. Đổi mới lập kế hoạch và theo dõi đánh giá ngành nông nghiệp: Nhìn từ kinh nghiệm của Hàn Quốc/ Vũ Cương// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 194 .- 8/2013 .- Tr. 49 - 57
Bài viết này nghiên cứu kinh nghiệm lập kế hoạch và theo dõi đánh giá của Hàn Quốc trong lĩnh vực NN&PTNT và đưa ra những đề xuất nhằm góp phần tháo gỡ những khó khăn như: phải đặt ra đổi mới kế hoạch trong một chương trình cải cách tổng thể, tăng cường sự phối hợp giữa Bộ NN&PTNT với các bộ khác đang thực hiện cải cách, chuyển sang lập kế hoạch theo chương trình, lấy kế hoạch 5 năm làm kế hoạch điều hành chính và xây dựng một hệ thống TDĐG có khả năng gắn trách nhiệm thực hiện kế hoạch đến từng cá nhân.
Từ khóa: lập kế hoạch, theo dõi và đánh giá, kế hoạch mang tính chiến lược, chương trình dự án, ngân sách, quản lý theo kết quả.

8. Kinh nghiệm của một số quốc gia châu Á về marketing lãnh thổ và bài học ứng dụng marketing lãnh thổ nhằm thu hút FDI cho Thủ đô Hà Nội/ Nguyễn Đức Hải, Vũ Trí Dũng// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 194 .- 8/2013 .- Tr. 58 - 62
Marketing lãnh thổ - dù được thực hiện một cách chủ động hay bị động - ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) của các địa phương. Những kinh nghiệm quốc tế đều chứng minh nguyên tắc cơ sở của marketing lãnh thổ là hiểu biết những nhu cầu và mong muốn của nhà đầu tư để có thể đề xuất các chính sách phù hợp nhằm thỏa mãn tốt nhu cầu và mong muốn đó, đạt được các mục tiêu thu hút FDI, góp phần thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Nghiên cứu những kinh nghiệm này không phải để áp dụng một cách máy móc vào quá trình xác lập và thực hiện chiến lược marketing lãnh thổ của Thành phố Hà Nội mà quan trọng hơn là phải vận dụng những kinh nghiệm đó một cách hiệu quả.
Từ khóa: Marketing lãnh thổ, đầu tư trực tiếp nước ngoài, môi trường đầu tư, kinh nghiệm.

9. Đánh giá mức độ tổn thương do biến đổi khí hậu của các hộ dân ven biển tỉnh Bến Tre/ Nguyễn Thị Kim Anh, Bùi Nguyễn Phúc Thiên Chương, Lê Thị Huyền Trang...// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 194 .- 8/2013 .- Tr. 63 - 73
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá mức độ tổn thương của các hộ dân ven biển tỉnh Bến Tre. Dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu này được thu thập vào năm 2011 thông qua việc điều tra 300 hộ dân tại các xã của ba huyện biển Bình Đại, An Thủy và Thạnh Phú. Sử dụng phương pháp VEP (tổn thương là xác suất đói nghèo) và ngưỡng chi tiêu tối thiểu 1,25$ một ngày của World Bank 2008, kết quả tính toán chỉ số tổn thương cho thấy xác suất bình quân mà mức chi tiêu hộ gia đình rơi xuống dưới ngưỡng 1.25$ một ngày hoặc tiếp tục ở dưới ngưỡng đó là 43%. Có 31% số hộ dân được xếp vào loại bị tổn thương nặng, 15% bị tổn thương vừa phải và 54% không bị tổn thương. Như vậy, dưới tác động của biến đổi khí hậu thì có đến gần một nửa hộ dân sẽ bị tổn thương. 87% trong tổng số các hộ dân bị tổn thương có chủ hộ là nam giới. 81% trong tổng số các hộ dân bị tổn thương có chủ hộ làm nông nghiệp, nuôi trồng hoặc/và đánh bắt thủy sản. 98% trong tổng số hộ dân bị tổn thương chỉ có rất ít hoặc không có kiến thức về biến đổi khí hậu và 63% không có bất kỳ sự chuẩn bị nào cho biến đổi khí hậu.
Từ khóa: Bến Tre, biến đổi khí hậu, mức độ tổn thương, chỉ số tổn thương.

10. Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực tại Đà Nẵng/ Võ Xuân Tiến// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 194 .- 8/2013 .- Tr. 74 - 80
Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực (NNL) luôn gắn bó mật thiết với nhau. Để phát huy vai trò NNL - nguồn lực quí giá của xã hội cũng như từng doanh nghiệp, không thể bỏ qua mối quan hệ này. Những năm qua, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã có một số mô hình tốt về mối quan hệ giữa đào tạo với sử dụng NNL (giữa nhà trường với doanh nghiệp). Tuy nhiên, bên cạnh một số kết quả đạt được, mối quan hệ giữa hai đầu của quá trình trên vẫn còn một số hạn chế. Sinh viên tốt nghiệp chưa được doanh nghiệp (DN) sử dụng đúng chuyên ngành đào tạo, hệ số khai thác kiến thưc chưa cao. Ngược lại, một số nội dung đào tạo ở các trường  chưa thật sự hữu ích đối với doanh nghiệp, một số kỹ năng của sinh viên khi tốt nghiệp chưa nhận được sự hài lòng của người sử dụng... Trên cơ sở kết quả điều tra, bài viết đi sâu phân tích các khía cạnh được, chưa được của mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng NNL tại Đà Nẵng; đề xuất hướng giải quyết để mối quan hệ này ngày càng hoàn thiện.
Từ khóa: nguồn nhân lực, đào tạo, đào tạo nguồn nhân lực, sử dụng nguồn nhân lực, liên kết đào tạo.

Trung tâm Thông tin - Thư viện