Bài trích trong Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam số 17 và 18 năm 2013
18 tháng 11, 2013 bởi
Bài trích trong Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam số 17 và 18 năm 2013
Trần Hữu Trung



1. Nhận diện các nhóm lợi ích/ Nguyễn Hữu Thao// Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam - Số 17 .- 9/2013 .- Tr. 34 - 37
Ở bất kỳ quốc gia nào, không phân biệt thể chế chính trị, lợi ích nhóm luôn ảnh hưởng đến quá trình hoạch định và thực thi các chính sách lớn của quốc gia đó. Do vậy, các nhóm lợi ích ngày càng thu hút nhiều sự quan tâm, chú ý của xã hội. Bài viết này bước đầu xem xét, đánh giá một cách tổng thể các vấn đề liên quan đến nhóm lợi ích ở Mỹ - một nước điển hình về sự phát triển khá mạnh mẽ của các nhóm lợi ích, từ đó rút ra một số vấn đề cần nghiên cứu đối với tình hình nhóm lợi ích ở Việt Nam.
Từ khóa: Chính trị, xã hội, nhóm lợi ích, Hoa Kỳ, Việt Nam, kinh nghiệm.

2. Hệ thống đánh giá, xếp hạng tín nhiệm công nghệ: kinh nghiệm của Hàn Quốc và khả năng áp dụng tại Việt Nam/ Tạ Việt Dũng, Hyung Kyung Jin// Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam - Số 17 .- 9/2013 .- Tr. 38 - 41
Có một thực tế là, hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp khoa học và công nghệ rất khó tiếp cận với các nguồn tín dụng phục vụ hoạt động đầu tư đổi mới công nghệ, bởi các tổ chức tài chính coi doanh nghiệp khoa học và công nghệ như doanh nghiệp thông thường và tuân thủ theo các quy định tài chính về tài sản thế chấp. Vì vậy, việc xác định giá trị công nghệ như giá trị tài sản vô hình để cung cấp các khoản vay, tín dụng và hỗ trợ tài chính khác là vấn đề đang rất được quan tâm. Qua tìm hiểu kinh nghiệm thành công của Hàn Quốc trong lĩnh vực này, hy vọng Việt Nam sẽ có giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp thông qua hệ thống đánh giá, xếp hạng tín nhiệm công nghệ. Bài viết trình bày sự cần thiết của việc xây dựng hệ thống đánh giá, xếp hạng tín nhiệm công nghệ cho doanh nghiệp; Hệ thống đánh giá, xếp hạng tín nhiệm công nghệ của Hàn Quốc; Khả năng triển khai và ứng dụng tại Việt Nam.
Từ khóa: Khoa học công nghệ, hệ thống xếp hạng tín nhiệm, Hàn Quốc, Việt Nam.

3. Nghiên cứu vật liệu từ cứng ở dạng hợp kim vô định hình và nanô tinh thể/ Nguyễn Huy Dân// Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam - Số 17 .- 9/2013 .- Tr. 44 - 50
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu về vật liệu từ cứng ở dạng hợp kim nền đất hiếm và kim loại chuyển tiếp có cấu trúc vô định hình và nanô tinh thể. Các nghiên cứu tập trung trên hai hệ vật liệu Nd-Fe-B và Nd-Fe-Al. Các mẫu hợp kim được chế tạo bằng phương pháp nguội nhanh và nghiền cơ năng lượng cao. Ảnh hưởng của các điều kiện công nghệ lên cấu trúc và tính chất từ của các loại vật liệu trên đã được khảo sát. Các nam châm vĩnh cửu nanocomposite nền Nd-Fe-B đã được sử dụng chế tạo với tích năng lượng từ cực đại (BH)max đạt trên 10 MGOe, tương đương với các nam châm cùng loại trên thị trường. Các kết quả nghiên cứu ban đầu về công nghệ chế tạo vật liệu từ cứng nanô tinh thể dị hướng cho thấy khả năng nâng cao được (BH)max cho các nam châm tổ hợp hai pha cứng - mềm tới gần giới hạn lý thuyết. Các mẫu hợp kim nền Nd-Fe-Al có lực kháng từ rất cao (Hc > 20 kOe) đã được chế tạo và cơ chế lực kháng từ cao của chúng được làm sáng tỏ.
Từ khóa: Vật liệu từ cứng, vật liệu nanocomposite, hợp kim vô định hình, hợp kim chứa đất hiếm và kim loại chuyển tiếp, nam châm đàn hồi.

4. Máy biến dòng điện dùng sợi quang làm phần tử cảm biến/ Nguyễn Trường Giang, Lei Wenfeng, Zhang Junjie// Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam - Số 17 .- 9/2013 .- Tr. 51 - 56
So với máy biến dòng điện kiểu thông thường, máy biến dòng điện làm việc dựa trên hiệu ứng Faraday dùng sợi quang làm phần tử cảm biến có rất nhiều ưu điểm như: mức cách điện lớn, không bị ảnh hưởng của nhiễu điện từ, băng thông rộng và tốc độ cao, kích thước gọn nhẹ và an toàn... Tuy nhiên, sự xuất hiện của các nguồn lưỡng chiết thẳng bên trong phần tử cảm biến làm ảnh hưởng tới độ nhạy thiết bị. Để xử lý vấn đề này có nhiều giải pháp đã được đưa ra, trong đó máy cảm biến dòng điện sử dụng công nghệ quang OCSs (Optical Current Sensors) cho thấy là giải pháp thay thế đầy hứa hẹn cho các biến dòng điện kiểu cảm ứng hiện nay.
Từ khóa: lưỡng chiết thẳng, hiệu ứng Faraday, cảm biến dòng điện.

5. Ảnh hưởng của một số thông số công nghệ đến lớp thấm Nitơ trên thép hợp kim 30XH2MΦA/ Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Ngọc Minh// Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam - Số 17 .- 9/2013 .- Tr. 57 - 59
Bài báo giới thiệu những kết quả nghiên cứu về phương pháp thấm nitơ thể khí trong môi trường thông dụng là NH3, áp suất dương so với khí quyển, áp dụng cho thép hợp kim 30XH2MΦA được sử dụng nhiều trong công nghiệp nói chung, công nghiệp quốc phòng nói riêng. Các thông số quan trọng như nhiệt độ, hệ số truyền nitơ βN đã được khảo sát để đánh giá ảnh hưởng của chúng đến chiều sâu và các tính chất của lớp thấm như độ cứng và độ chống mài mòn. Kết quả thử nghiệm cho thấy, lớp thấm nitơ có thể làm tăng khả năng chống mòn cho thép tới ba lần.
Từ khóa: phương pháp thấm nitơ, thép hợp kim 30XH2MΦA, thông số công nghệ.

6. Áp dụng công nghệ rada xuyên đất nghiên cứu cấu trúc địa chất tầng nông khu vực quần đảo Trường Sa/ Đỗ Huy Cường, Hoàng Văn Vượng, Trần Văn Khá// Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam - Số 17 .- 9/2013 .- Tr. 60 - 63
Trong những năm gần đây, công nghệ rada xuyên đất đã được áp dụng rộng rãi trong tổ hợp các phương pháp địa vật lý nghiên cứu địa chất công trình. Việc tiến hành khảo sát trực tiếp trên vùng quần đảo Trường Sa là một trong những thử nghiệm cần thiết nhằm khẳng định ưu thế của phương pháp này. Từ các kết quả thu được, nhóm tác giả đã tiến hành xử lý, phân tích và đưa ra một số nhận định bước đầu về nền móng tầng nông trên các đảo đã khảo sát. Ưu thế của phương pháp, khả năng ứng dụng trên vùng quần đảo Trường Sa đã được khẳng định và cần tiếp tục áp dụng trong tương lai.
Từ khóa: Địa chất, công nghệ rada xuyên đất, quần đảo Trường Sa.


1. Điện toán đám mây - Chiến lược và thách thức trong lĩnh vực tài chính ngân hàng/ Trần Thị Huế// Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam - Số 18 .- 9/2013 .- Tr. 9 - 11
Điện toán đám mây (ĐTĐM) là một trong những công nghệ được quan tâm nhiều nhất trong lĩnh vực công nghệ thông tin những năm gần đây. Thị trường cho hệ thống dịch vụ dựa trên ĐTĐM được coi là một thị trường tiềm năng đối với các nhà công nghệ. Các doanh nghiệp ngành tài chính ngân hàng là minh chứng rõ rệt và mạnh mẽ nhất cho việc áp dụng công nghệ này vào các hoạt động kinh doanh. Bài viết trình bày về những giải pháp hiện tại đang được các tổ chức tài chính ngân hàng áp dụng và chiến lược thay đổi hệ thống đó trong tương lai khi áp dụng mô hình ĐTĐM. 
Từ khóa: Công nghệ thông tin, điện toán đám mây, tài chính ngân hàng.

2. Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong đo, giám sát, cảnh báo môi trường từ xa/ Trần Thiện Chính, Nguyễn Trọng Thành, Nguyễn Việt Thắng// Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam - Số 18 .- 9/2013 .- Tr. 12 - 14
Thủy quyển, khí quyển, địa quyển... là những yếu tố quan trọng góp phần vào sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Chúng không những tác động trực tiếp đến sức khỏe con người, mà còn tác động đến môi trường tự nhiên cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước. Tình hình suy thoái môi trường đang trở nên trầm trọng không chỉ trên thế giới mà cả ở Việt Nam, nhất là những khu vực đang khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên (như vùng Tây Nguyên). Do vậy, việc đo đạc, giám sát các tham số môi trường đã và đang trở nên quan trọng và cấp bách nhằm đưa ra các thông tin cảnh báo kịp thời về ô nhiễm để có biện pháp giải quyết kịp thời nhằm bảo vệ môi trường và dự báo biến đổi khí hậu. Bài viết này trình bày một số ứng dụng kỹ thuật - công nghệ mới về điện tử, viễn thông, tin học trong việc đo, thu thập dữ liệu, giám sát và đưa ra thông tin cảnh báo môi trường từ xa phục vụ cho công tác quản lý môi trường.
Từ khóa: Công nghệ thông tin, hệ thống giám sát, môi trường.

3. Kỹ thuật xây dựng nhà chim yến/ Lê Hữu Hoàng// Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam - Số 18 .- 9/2013 .- Tr. 18 - 20
Ở Việt Nam, ngoài chim yến hàng (Aerodramus fuciphagus germani) sinh sống và làm tổ trong các hang đảo tự nhiên, những năm gần đây đã xuất hiện phân loài chim yến nhà (Aerodramus fuciphagus amechamus, Aerodramus fuciphagus Vestitus) sinh sống và làm tổ trong nhà với số lượng quần đàn ngày càng tăng. Hiện nay, phân loài chim yến này được phân bổ ở hầu hết các địa phương từ Thanh Hóa đến Cà Mau, đặc biệt tập trung với số lượng khá lớn ở các tỉnh duyên hải miền Trung đến các tỉnh Nam Bộ. Nghề nuôi yến trong nhà đã hình thành và đang phát triển với nhiều triển vọng. Vì vậy, việc nghiên cứu, thiết kế, xây dựng nhà nuôi chim yến và sử dụng các loại vật liệu trong nhà yến mang tính cấp thiết. Bài báo trình bày về các bước tiến hành nghiên cứu nhà nuôi chim yến phù hợp, từ vật liệu, cấu trúc, kích thước và các yếu tố ảnh hưởng đến nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, vòng đảo lượn của chim trong nhà yến; quy trình kỹ thuật nuôi chim yến trong nhà và kỹ thuật xây dựng nhà yến, làm cơ sở cho việc phát triển nghề nuôi chim yến trong nhà ở Khánh Hòa và trên toàn quốc.
Từ khóa: Kỹ thật nuôi chim yến, Khánh Hòa, Công ty yến sào Khánh Hòa.

4. Sử dụng ống nano cacbon biến tính trong pin DSC/ LTK// Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam - Số 18 .- 9/2013 .- Tr. 38 - 40
Pin DSC sử dụng chất màu nhạy quang là thế hệ pin mặt trời mới thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Tuy nhiên, công suất thấp và chi phí sản xuất cao là những rào cản lớn để có thể đưa pin DSC ứng dụng vào thực tế cuộc sống. Vừa qua, các nhà khoa học thuộc Đại học Bách khoa Nanyang, Singapore đã tìm ra một phương pháp mới, biến tính các ống nano cacbon nhằm thay thế cho oxide dẫn điện trong suốt phủ trên đế thủy tinh dẫn của pin DSC, giúp hạ giá thành sản xuất.
Từ khóa: Công nghệ, năng lượng, pin mặt trời, pin DSC.

5. Những tiến bộ gần đây và triển vọng sắp tới của chuyên ngành y học hạt nhân Việt Nam/ Phan Sỹ An// Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam - Số 18 .- 9/2013 .- Tr. 46 - 51
Y học hạt nhân (YHHN) là một chuyên ngành tương đối mới của y học. Kỹ thuật cơ bản của nó là dùng các đồng vị phóng xạ đánh dấu các đối tượng sinh học cần quan tâm và dựa vào tác dụng sinh học của bức xạ chủ yếu tứ các nguồn phóng xạ hở đưa vào bên trong cơ thể để chẩn đoán và điều trị. Chuyên ngành YHHN bắt đầu hình thành ở nước ta từ những năm đầu thập kỉ 70 của thế kỉ 20 với 2 cơ sở đầu tiên tại Trường Đại học Y Hà Nội + Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện quân y 103. Đến nay, chúng ta đã phát triển cán bộ chuyên khoa và cơ sở trang bị tại hơn gần 30 cơ sở trong cả nước. Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau, YHHN nước ta một thời gian dài ít được đầu tư nên chậm phát triển, kỹ thuật YHHN chưa được áp dụng rộng rãi trong nhiều chuyên khoa cần thiết của cả nước. Gần đây, nhờ chủ trương xã hội hóa và sự quan tâm của Nhà nước, sự giúp đỡ của cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) và hợp tác quốc tế, chúng ta đã có thêm các thiết bị hiện đại, nhất là về xạ hình, có những tiến bộ lớn trong cả chẩn đoán và điều trị bằng các kỹ thuật hạt nhân.
Từ khóa: y học hạt nhân, kỹ thuật hạt nhân trong y học.

6. Ứng dụng lâm sàng PET/CT sử dụng dược chất phóng xạ không phải 18FDG-PET trong ung thư/Lê Ngọc Hà, Mai Hồng Sơn// Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam - Số 18 .- 9/2013 .- Tr. 52 - 56
Trong thực hành lâm sàng, 18FDG-PET thường được sử dụng trong chẩn đoán giai đoạn, đánh giá và theo dõi kết quả điều trị ở nhiều bệnh nhân ung thư. Tuy nhiên, không phải tất cả các khối u ác tính đều tăng chuyển hóa 18FDG. Bài báo này giới thiệu một số ứng dụng lâm sàng của các dược chất phóng xạ của PET không phải 18FDG, như 11C- và 18F-choline, 11C-methionine, 18F-DOPA, 68Ga-DOTA-somatostatine, 11C-acetate và 18F-FLT... 11C- và 18F-choline có ái tính cao với ung thư tuyến tiền liệt, thậm chí với loại có độ ác tính thấp. Choline có thể được gắn với cả 11C và 18F (11C có ưu điểm là bài tiết ít hơn qua đường tiết niệu, giảm liều bức xạ cho bệnh nhân; còn 18F lại thuận tiện hơn cho các trung tâm không có cyclotron). Methionine rất cần cho quá trình tổng hợp protein của các tế bào ung thư. Dược chất này được ứng dụng chủ yếu trong việc đánh giá ung thư hệ thần kinh trung ương. Các khối u thần kinh - nội tiết có sự tăng hoạt động của L-DOPA decarboxylase nên bắt giữ 18F-DOPA. 18F-FLT là một chất chỉ điểm đặc hiệu của sự tăng sinh các tế bào ác tính, đặc biệt là trong ung thư phổi. Nhiều dược chất phóng xạ mới đang được nghiên cứu và ứng dụng lâm sàng, như 18F-MISO, 64Cu-ATSM... ở bệnh nhân xạ trị.
Từ khóa: dược chất phóng xạ, choline, methionine, DOPA, DOTA, FLT.

7. Nghiên cứu tỷ lệ kháng nguyên Rh âm và Rh yếu ở bệnh nhân trước mổ tại Bệnh viện Việt Đức/Trần Thị Hằng// Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam - Số 18 .- 9/2013 .- Tr. 57 - 59
Máu là một sinh phẩm đặc biệt được ứng dụng rộng rãi trên lâm sàng, đặc biệt trong ngoại khoa. Bởi vậy, việc phát hiện, kiểm soát và cung cấp đủ các nhóm máu hiếm như Rh âm hay Rh yếu là rất quan trọng nhằm đảm bảo an toàn truyền máu. Bài viết trình bày kết quả khảo sát tỷ lệ Rh âm và Rh yếu trên bệnh nhân làm xét nghiệm trước mổ tại Bệnh viện Việt Đức. Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ Rh âm là 0,13%, tỷ lệ Rh yếu là 0,01%; tỷ lệ nhóm máu ABO Rh âm: 0>B = A > AB.
Từ khóa: y học, bệnh nhân, Bệnh viện Việt Tiệp, kháng nguyên Rh âm và Rh yếu.

8. Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ số đông máu trên bệnh nhân ho ra máu tại Bệnh viện Phổi trung ương/ Võ Trọng Thành// Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam - Số 18 .- 9/2013 .- Tr. 60 - 63
Qua tiến hành nghiên cứu một số chỉ số đông máu và tìm hiểu mối liên quan giữa sự thay đổi các chỉ số đông máu trên 359 bệnh nhân ho ra máu điều trị tại Bệnh viện Phổi trung ương cho thấy: tỷ lệ bệnh nhân ho ra máu có rối loạn đông cầm máu là không đáng kể, trong đó chỉ số Prothrombin time (PT) kéo dài: 50 bệnh nhân (14%), thời gian Thromboplastin hoạt hóa từng phần (aPTT) kéo dài: 30 bệnh nhân (8,4%), Thrombin time (TT) kéo dài: 66 bệnh nhân (21,5%); 28 bệnh nhân (7,8%) có số lượng tiểu cầu (SLCT) giảm và 29 bệnh nhân giảm fibrinogen (8,1%); có rất ít mối liên quan giữa các chỉ số đông máu trên bệnh nhân ho ra máu.
Từ khóa: ho ra máu, đông máu, bệnh lao, chỉ số PT, chỉ số aPTT, chỉ số tiểu cầu, chỉ số Fibrinogen, co cục máu đông, chỉ số TT.
 
Trung tâm Thông tin - Thư viện