Bài trích Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ số 15 và 16 năm 2014
28 tháng 8, 2014 bởi
Bài trích Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ số 15 và 16 năm 2014
Trần Hữu Trung


1. Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và các ứng dụng trong quản trị rủi ro tín dụng theo Basel/ Lê Thanh Tùng// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 15 .- 8/2014 .- Tr. 18-21
Xếp hạng tín dụng (XHTD) khách hàng trên thế giới đã có lịch sử phát triển hơn 100 năm tại Mỹ và các nước châu Âu. Còn ở Việt Nam, hoạt động này mới bắt đầu được phát triển từ năm 2002 và được đánh dấu bằng Quyết định số 57/2002/QĐ-NHNN (Văn bản được coi là nền móng chính thức đầu tiên cho hoạt động XHTD tại Việt Nam). Sau gần 4 năm triển khai thí điểm đề án theo Quyết định số 57, đến 2005, NHNN chính thức ban hành Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN là khung pháp lý cơ bản đầu tiên, tạo động cơ tuân thủ tốt nhất cho các NHTM phải tiến hành xây dựng và áp dụng Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ (HTXHTDNB) vào hoạt động kinh doanh và quản trị rủi ro nội bộ ngân hàng. Gần đây nhất, trong nỗ lực của NHNN nhằm triển khai các quy định về hệ thống quản trị rủi ro theo chuẩn mực quốc tế Basel II, NHNN đã ban hành Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 với những nội dung yêu cầu, hướng dẫn cụ thể hơn về HTXHTDNB (Điều 5), một lần nữa khẳng định vai trò của HTXHTDNB trong quản lý chất lượng tín dụng, xây dựng chính sách dự phòng rủi ro tại các TCTD. Đây là những căn cứ ban đầu bắt buộc các TCTD phải thực hiện để chuẩn bị cho một lộ trình triển khai Basel II trong thời gian tới.
Từ khóa: Xếp hạng tín dụng, ngân hàng, quản trị rủi ro tín dụng, Basel.
2. Ứng dụng của kỹ thuật Datamining trong phân tích hoạt động của ngân hàng/ Phạm Thị Mai Anh// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 15 .- 8/2014 .- Tr. 22-25
Hiện nay, các ngân hàng cũng như các tổ chức tài chính đang lưu trữ một kho dữ liệu điện tử khổng lồ. Nguồn dữ liệu với kích thước lớn như vậy đòi hỏi các nhà quản lý ngân hàng và các tổ chức tài chính phải ứng dụng kỹ thuật Datamining trong phân tích dữ liệu để đưa ra những thông tin (hoặc mô hình) phù hợp trong quá trình ra quyết định và nâng cao hiệu quả của một số quy trình kinh doanh cốt lõi. Trong bài viết này, tác giả thảo luận về những ứng dụng rộng lớn của Datamining trong các hoạt động của ngân hàng như quản lý rủi ro, phát hiện gian lận, duy trì khách hàng và quảng bá sản phẩm của ngân hàng.
Từ khóa: Kỹ thuật Datamining, ngân hàng, phân tích
3. Tăng trưởng tín dụng sẽ cán đích/ Nguyễn Minh Phương// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 15 .- 8/2014 .- Tr. 26-27
Đã qua nửa chặng đường của năm 2014, nhưng tín dụng lại có mức tăng trưởng khá khiêm tốn. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm 2014, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 3,52% so với cuối năm 2013. Điều này đã làm dấy lên một số ý kiến lo ngại, liệu ngành Ngân hàng có “về đích” với mục tiêu tăng trưởng 12-14% đã đặt ra cho cả năm 2014?
Từ khóa: Tín dụng, ngân hàng, tăng trưởng.
4. Vài suy nghĩ về điều hành tỷ giá tại Việt Nam/ Lê Thị Thúy Hằng// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 15 .- 8/2014 .- Tr. 28-32
Tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng trong chính sách tiền tệ, vừa là mục tiêu vừa là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của mọi quốc gia. Chính sách điều hành tỷ giá hối đoái hợp lý sẽ tạo điều kiện cho việc duy trì, mở rộng và phát triển các mối quan hệ kinh tế trong nước và quốc tế, giúp cho nền kinh tế trong nước có điều kiện hội nhập khu vực và thế giới ngày càng mạnh mẽ hơn. Nghiên cứu này nhìn nhận một cách khách quan chính sách điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và gợi ý một số giải pháp nhằm cải thiện cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt để thúc đẩy quá trình tăng trưởng và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Từ khóa: Điều hành tỷ giá, ngân hàng, Việt Nam.
5. Áp lực gia tăng nợ công của Việt Nam thực trạng và một số khuyến nghị/ Vương Thị Minh Đức, Ngô Thu Hoàng// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 15 .- 8/2014 .- Tr. 33-37
Trong Báo cáo tình hình Kinh tế xã hội năm 2013, giải trình trước Quốc hội ngày 21/10/2013, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết: Nợ công của Việt Nam trong các năm 2014 và 2015 dự kiến vẫn trong giới hạn an toàn (không quá 65% GDP). Tuy nhiên, áp lực trả nợ rất lớn bởi nếu tính cả khoản nợ nước ngoài của khu vực doanh nghiệp và nợ bằng trái phiếu không được Chính phủ bảo lãnh thì nợ công của Việt Nam có thể cao hơn rất nhiều, đe dọa đến tính bền vững của nợ công ở Việt Nam. Năm 2014, mức bội chi NSNN được Quốc hội thông qua là 5,3% GDP thì với tỷ lệ này đến cuối năm 2014 tỷ lệ nợ công của Việt Nam có thể xấp xỉ ở mức 60% GDP, dư nợ Chính phủ tăng khoảng 46% GDP và nợ nước ngoài quốc gia khoảng 42% GDP.
Từ khóa: Áp lực nợ công, ngân hàng, Việt Nam.
6. Thanh toán không tiền mặt xu hướng thế giới và một số gợi ý cho Việt Nam/ Nguyễn Quốc Nghi// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 15 .- 8/2014 .- Tr. 38-40
Sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ cũng như xu hướng toàn cầu hóa và tự do tài chính đã và đang hướng thế giới từ một hệ thống giao dịch chủ yếu bằng tiền mặt sang “một xã hội không tiền mặt”. Thế giới đang chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ của các công cụ thanh toán điện tử. Nhiều phương thức thanh toán hiện đại đã tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại và đơn giản hóa các khoản giao dịch bằng tiền. Thực tế, việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) đang góp phần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thanh toán điện tử, đa dạng hóa dịch vụ, giảm chi phí xã hội liên quan đến tiền mặt, làm thay đổi thói quen thanh toán trong giao dịch. Từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng và hiệu quả quản lý nhà nước. Quả thực, so với phương thức thanh toán truyền thống bằng tiền mặt thì TTKDTM thể hiện nhiều lợi thế vượt trội hơn. Chính vì thế, nó được triển khai thực hiện và khuyến khích mở rộng tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, TTKDTM đã dần đi vào cuộc sống của người dân, góp phần làm giảm lượng tiền mặt trong nền kinh tế. Tuy nhiên, so với thế giới, tỷ lệ sử dụng tiền mặt ở Việt Nam vẫn khá cao. Trong chừng mực nào đó, nó sẽ làm cản trở sự phát triển và hội nhập nền kinh tế thế giới.
7. Thị trường phái sinh tín dụng thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam/ Huỳnh Thị Hương Thảo// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 16 .- 8/2014 .- Tr.39-40.
Quản lý rủi ro tín dụng đã trở thành một phần không thể thiếu trong hoạt động tín dụng. Với sự phát triển của các công cụ tài chính như hiện nay đặc biệt là các công cụ tín dụng phái sinh thì việc quản lý rủi ro tín dụng đã được hỗ trợ rất nhiều thông qua bản chất tự phòng vệ. Chúng cho phép tách rủi ro tín dụng với các loại hình khác vốn có trong mỗi công cụ cụ thể và chuyển rủi ro này từ người bán rủi ro đến người mua rủi ro. Chính vì vậy, hiện nay các ngân hàng thương mại đã bắt đầu quan tâm đến loại hình công cụ phái sinh này để quản lý rủi ro. Ở các nước phát triển, các hợp đồng phái sinh tín dụng thường được sử dụng là: hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (Credit Default Swap - CDS), hợp đồng quyền chọn tín dụng (Credit Default Option), hợp đồng trao đổi tổng số thu nhập (Total Return Swap), trái phiếu liên kết rủi ro tín dụng (Credit Link Note).
Từ khóa: Thị trường phái sinh, tín dụng, thế giới, Việt Nam.

Trung tâm Thông tin Thư viện