Từ FTA đến WTO
21 tháng 11, 2013 bởi
Từ FTA đến WTO
Trần Hữu Trung


Bài viết này tập trung phân tích nguyên nhân, sự ra đời và phát triển mạnh của các Hiệp định thương mại tự do FTA. Tác động của FTA tới các nước thành viên. Cuối cùng là một số gợi mở để có thể biến các FTA thành FTA toàn cầu và tiến tới WTO. Phương pháp nghiên cứu là thống kê và phân tích định tính. Bài viết được cấu trúc như sau: Phần một trình bày sự ra đời và phát triển của FTA. Phần hai phân tích về mặt lý thuyết tác động của FTA tới các nước thành viên. Phần ba gợi mở việc làm thế nào để chuyển các FTA thành FTA toàn cầu tiến tới WTO.

Dưới đây là bài báo khoa học “Từ FTA đến WTO” của ThS. Hoàng Chí Cương – Khoa Quản trị kinh doanh, Đại học Dân lập Hải Phòng,Nghiên cứu sinh Đại học Waseda, Tokyo Nhật Bản..

MỞ ĐẦU

Khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu được kích hoạt bởi cú sốc Lehman [1] vào tháng 9 năm 2008 tại Mỹ đã ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế toàn cầu. Đây được coi là một trong những cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử, được so sánh như Đại khủng hoảng những năm 1930, chỉ diễn ra đôi lần trong một thế kỉ mà thôi. Cuộc khủng hoảng sau đó lan rộng ra khắp thế giới thông qua hai kênh chính là tài chính và ngoại thương bởi Mỹ là thị trường lớn nhất thế giới - thị trường mà hầu hết các quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản hay Liên minh Châu Âu (EU), kể cả Việt Nam đều phải lệ thuộc vào sự tăng trưởng của nó. Do tình hình kinh tế khó khăn, tăng trưởng kinh tế chững lại, đầu tư trực tiếp (FDI) và ngoại thương toàn cầu giảm sút, thất nghiệp, nợ công gia tăng khiến các quốc gia có xu hướng quay lại chế độ bảo hộ nội địa bằng cách sử dụng các công cụ truyền thống như hàng rào thuế quan và phi thuế quan gây cản trở cho hàng hóa của các doanh nghiệp nước ngoài. Tuy việc tăng thuế và áp dụng các rào cản phi thuế quan “ở mức” không vi phạm các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nhưng nó đã bóp méo thương mại quốc tế và giảm hiệu quả trong việc phân bổ các nguồn lực. Sự việc sẽ không xảy ra nếu WTO tăng cường vai trò của mình, và tự do hóa thương mại sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa khi các quy định của WTO được xây dựng tốt và chặt chẽ hơn. Điều này chỉ có thể đạt được thông qua đàm phán đa phương giữa các quốc gia thành viên của WTO. [2]

Tuy nhiên, vòng đàm phán gần đây nhất, vòng đàm phán Doha - DDA (Doha Development Agenda) đã đi vào bế tắc xuất phát từ bất đồng về chính sách thương mại trong nông nghiệp giữa Mỹ và Ấn Độ v.v…kết quả là đàm phán bị hoãn vào năm 2008. Để đối phó với sự bế tắc trong vòng Doha, các quốc gia có xu hướng quay trở lại việc kí kết các Hiệp định thương mại tự do - FTA (Free Trade Agreement). Lợi ích của FTA càng rõ hơn sau khủng hoảng, các nước nhận ra tầm quan trọng của việc giảm sự lệ thuộc vào thị trường Mỹ và EU để có thể tránh, hoặc chí ít hạn chế được sự tác động tiêu cực của các cuộc khủng hoảng kiểu như 2008. FTA có xu hướng mâu thuẫn (phá vỡ) quy tắc tối huệ quốc - MFN (Most Favoured Nation), một trong những quy tắc pháp lý nền tảng quan trọng nhất của WTO. [3] Sự gia tăng các FTA có nguy cơ tác động tới tự do hóa thương mại toàn cầu mà WTO như một chiếc ô bảo trợ cho nó. Lợi ích từ tự do hóa thương mại toàn cầu đem lại cho các quốc gia ở một khía cạnh nào đó đã được chứng minh rõ ràng trong các học thuyết thương mại cổ điển, tân cổ điển như Lợi thế tuyệt đối của Adamsmith, Lợi thế tương đối của David Ricardo, hay Lý thuyết Heckscher - Ohlin (Lý thuyết H-O) v.v…thì WTO được xem là hình thái tốt nhất, và FTA được xem là hình thái hiệu quả thứ hai. Tuy nhiên, thực tế vẫn song song tồn tại hai dạng hình thái này. Vấn đề ở chỗ làm thế nào để chuyển từ FTA lên một hình thái cao hơn là FTA toàn cầu, tức đa số các nước trên thế giới là thành viên của FTA, lúc đó FTA toàn cầu sẽ đóng vai trò như WTO. Với cách tiếp cận đó, nghiên cứu tập trung vào lịch sử phát triển của FTA, tập trung vào các FTA ở Đông Á, tác động của FTA tới các nước thành viên, và làm cách nào để có thể chuyển FTA thành FTA toàn cầu – có hình thái như WTO, và WTO nhằm thúc đẩy tự do hóa thương mại trên thế giới. [4]

1. SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC FTA

Các hiệp định thương mại khu vực - RTA (Regional Trade Agreement) bắt đầu hình thành từ đầu những năm 1990 và phát triển mạnh vào giữa thập niên này, chúng đạt đỉnh điểm về số lượng năm 2006 (trên dưới 430). Ngày 1/1/1995, 123 nước thành viên GATT đã ký Hiệp định Marrakesh, Morocco đánh dấu sự ra đời của WTO - vốn tiền thân là GATT ra đời năm 1947. Tuy nhiên, sự ra đời ngày càng nhiều các FTA, vốn xung đột/vi phạm (violate) với quy tắc MFN của WTO có vẻ như rất “mỉa mai” (ironic). Bởi bản thân WTO đã như một tổ chức quốc tế gồm quá nửa các nước trên thế giới là thành viên với vai trò thúc đẩy tự do hóa thương mại đa biên và giải quyết các tranh chấp trong thương mại quốc tế. FTA cũng có vai trò thúc đẩy tự do hóa thương mại, nhưng số lượng thành viên của FTA thường ít hơn WTO, FTA tồn tại với tư cách là khối mậu dịch tự do vùng, đa phương, hay song phương trong một khối mậu dịch tự do toàn cầu lớn hơn là WTO.

Một trong những FTA điển hình là Hiệp định Mậu dịch tự do Bắc Mỹ - NAFTA (North American Free Trade Agreement) bao gồm 3 nước Mỹ, Canada và Mêhicô, vốn có ảnh hưởng rõ nét tới phần còn lại của thế giới (các nước khác), điều này không gây ngạc nhiên vì nó chiếm quá ¼ GDP toàn cầu. Sự ra đời NAFTA thể hiện sự thay đổi chính sách của Mỹ trong việc nhận ra tầm quan trọng của FTA trong phối cảnh tự do hóa thương mại đa biên trong khuôn khổ GATT. [5] Nam Mỹ cũng tồn tại một FTA là Mercosur - một hiệp định thương mại tự do được thành lập vào năm 1991 giữa các nướcBrasilArgentinaUruguayParaguay. Đến tháng 6 năm 2006, Mercosur kết nạp thêm Venezuela,BoliviaChileColombia, và Ecuador, hiện Peru là thành viên liên kết của Mercosur. [6]

Tại Đông Á, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra sự tồn tại của RTA là Khối Mậu dịch tự do ASEAN[7] - AFTA (ASEAN Free Trade Area) thành lập năm 1992. Hiệp định Đối tác Kinh tế Nhật Bản - Singapore - JSEPA (Japan - Singapore Economic Partnership Agreement) được ký kết vào tháng 1 năm 2002. Sau đó, rất nhiều nước Đông Á triển khai đàm phán và ký kết các FTA với các nước trong và ngoài khu vực như Chile - Hàn Quốc (Chile - South Korea FTA). Sự việc tiến triển mạnh hơn khi Trung Quốc ký kết với ASEAN Hiệp định Mậu dịch tự do ASEAN Trung Quốc - ACFTA (ASEAN - China Free Trade Agreement). Nhật Bản nhanh chóng đáp lại bằng việc ký kết Hiệp định Thương mại tự do ASEAN Nhật Bản (ASEAN - Japan FTA). Theo sau xu hướng này là Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc và Niu Di Lân. Điều này cho thấy rõ xu hướng mở rộng thành viên của FTA. Minh chứng rõ hơn cho xu hướng này là ASEAN cộng 3 EAFTA (East Asia FTA, gồm10 nước ASEAN với 3 nước Đông Bắc Á: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) và ASEAN cộng 3 khác như ASEAN với Ấn Độ, Úc, và Niu Di Lân. Cuối cùng tiến tới ASEAN cộng 6 - CEPEA (Comprehensive Economic Partnership in East Asia) đã thống nhất đi đến đàm phán từ năm 2010. Có hai lý do chính để FTA phát triển mạnh ở Đông Á, thứ nhất là để thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư, thứ hai là để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước, ngoài ra còn mục đích chính trị như trường hợp Nhật Bản, tranh dành ảnh hưởng ở khu vực với Trung Quốc. [8]

Trong khi CEPEA đang được xúc tiến thì Mỹ đề xuất thành lập một khu vực thương mại tự do ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (Asia - Pacific region) - FTAAP (Free Trade Agreement in Asia - Pacific) gồm 21 nước thành viên Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương - APEC (Asia - Pacific Economic Cooperation).Sự lo lắng của Mỹ ở đây chính là mình bị đứng ngoài CEPEA (ASEAN + 6). So sánh FTAAP và CEPEA thấy phát sinh sự khác biệt về các nước thành viên. Nga và Đài Loan (thành viên APEC) triển vọng thuộc FTAAP nhưng không nằm trong CEPEA, Ấn Độ thuộc CEPEA nhưng không phải thành viên APEC, nghĩa là không thuộc FTAAP.

Vậy nguyên nhân nào dẫn tới sự bùng nổ của các FTA? Có rất nhiều nguyên nhân, thứ nhất, quan trọng nhất là sự gia tăng các thành viên WTO đã không thể/khó thỏa mãn/đi tới sự đồng thuận cuối cùng giữa các nước thành viên. Gia nhập WTO vốn dĩ là một quá trình lâu dài (Việt Nam cần 11 năm đàm phán với hơn 200 phiên song và đa phương), trong khi FTA lại nhanh hơn, và lĩnh vực mà WTO bao quát (cover) lại hạn chế hơn. [9] Điều này dễ hiểu bởi càng nhiều bên tham gia thì sự đồng thuận/nhượng bộ càng trở nên khó khăn. Ví dụ điển hình là vòng Uruguay khởi động từ năm 1986 mất 8 năm để kết thúc đàm phán đa phương trong khi kế hoạch là 4 năm. Gần đây nhất là vòng đàm phán Doha (DDA), ít có tiến triển và tạm ngừng năm 2008, mà nguyên nhân chính là sự không đồng thuận trong việc tự do hóa thị trường hàng nông sản giữa Mỹ và Ấn Độ, hơn nữa một số nước cũng không đồng thuận với một số vấn đề trong DDA, trong khi các quyết định của WTO lại xuất phát từ sự đồng thuận. Nguồn gốc của vấn đề là sự xung đột lợi ích giữa các nước và các nhóm dẫn tới sự đổ vỡ của DDA. Một lý do nổi cộm khác là sự hình thành các nhân tố chống lại mặt trái của toàn cầu hóa như thất nghiệp, ô nhiễm môi trường, v.v…của các tổ chức bảo vệ môi trường, công đoàn, và các tổ chức phi chính phủ NGO (Non Government Organazation), vốn luôn có xu hướng chống lại quá trình toàn cầu hóa. Như đã phân tích, do thành viên WTO khó đi đến sự đồng thuận, sự bao quát các lĩnh vực của WTO hạn chế, cộng với sự gia tăng nhân tố cản trở quá trình toàn cầu hóa khiến các nước có xu hướng quay sang FTA.

Có thể nói, hiệu ứng Domino đã kích thích sự ra đời và phát triển mạnh của các FTA ở Đông Á và Khu vực Châu Á Thái Bình Dương xuất phát từ sự cạnh tranh, ảnh hưởng và lợi ích của các bên tham gia. Vai trò của FTA là thúc đẩy thương mại tự do, hợp tác kinh tế và đầu tư. FTA dường như ưu việt hơn WTO ở chỗ là thời gian đàm phán ký kết ngắn, dễ đạt đồng thuận do ít nước tham gia, lĩnh vực FTA bao quát rộng hơn WTO, và FTA ít chịu sự phản kháng gay gắt của các nhân tố đối kháng.

2. TÁC ĐỘNG CỦA FTA TỚI CÁC NƯỚC THÀNH VIÊN

Phần này sẽ phân tích về mặt lý thuyết tác động của FTA tới các nước thành viên. Tác động của FTA được đề cập nhiều trong các sách tiêu chuẩn của nhiều tác giả trên thế giới như A. Myrick Freeman v.v…, tựu trung lại FTA có hai tác động chính là tác động tĩnh (Static effects) và tác động mang tính động lực (Dynamic effects).

Tác động tĩnh (Static effects) có hai dạng chính là sáng tạo thương mại (trade creation effect) và tác động chuyển hướng thương mại (trade diversion effect). Tác động sáng tạo thương mại (trade creation effect) được hiểu như sau: khi vào FTA, các nước thành viên có xu hướng phải cắt giảm thuế quan, rào cản phi thuế quan để thúc đẩy thương mại tự do, do đó sẽ xuất hiện những sản phẩm của các nước thành viên FTA có giá thấp hơn sản phẩm sản xuất trong nước. Kết quả là quốc gia sẽ nhập khẩu sản phẩm rẻ về hơn là sản xuất sản phẩm ấy trong nước với giá cao hơn. Điều này dẫn tới hai lợi ích căn bản là phân bổ nguồn lực sản xuất hiệu quả hơn và người tiêu dùng, các công ty thương mại sẽ được hưởng lợi từ việc xuất nhập khẩu và dùng hàng giá rẻ. Tuy nhiên điều này cũng đồng nghĩa nó sẽ gây áp lực cho sản xuất trong nước của nước nhập khẩu. Tác động chuyển hướng thương mại (trade diversion effect) nghĩa là sau khi hạ thuế quan, các nước thành viên có xu hướng chuyển từ nhập khẩu của các nước không phải thành viên FTA sang nhập từ các nước thành viên của FTA. Vì, tuy các nước ngoài FTA có thể có lợi thế về sản xuất, thể hiện ở giá của một sản phẩm nào đó thấp hơn các thành viên FTA, nhưng do không phải thành viên FTA nên hàng của họ vẫn chịu thuế cao, trong khi hàng không có lợi thế của các nước thành viên FTA được cắt giảm thuế, kết quả giá rẻ hơn hàng của các nước ngoài FTA, hệ quả là các nước sẽ có xu hướng chuyển từ nhập hàng có lợi thế của các nước ngoài FTA sang nhập khẩu hàng kém lợi thế của các nước thành viên FTA. Từ phân tích trên, ta thấy tác động tĩnh sẽ gây bất lợi cho các nước không phải thành viên FTA.

Tác động mang tính động lực (Dynamic effects) có ba dạng thức chính là mở rộng thị trường (market expansion), thúc đẩy cạnh tranh (competition promotion), và thu hút đầu tư (FDI attraction). Việc mở rộng thị trường hàm ý khi tham gia FTA các thành viên có cơ hội mở rộng ngoại thương, đạt tới hiệu quả về sản xuất và phân phối xuất phát từ việc cắt giảm thuế quan và phân bổ lại nguồn lực hiệu quả hơn. Tác động thúc đẩy cạnh tranh thể hiện khi cắt bỏ hàng rào thuế quan, phi thuế quan các doanh nghiệp trong nước sẽ ít được bảo hộ hơn, để tồn tại trong điều kiện hàng nhập khẩu rẻ gây áp lực buộc họ phải nâng cao năng suất, chất lượng, giảm giá v.v… để cạnh tranh tốt hơn. FTA cũng giúp tăng cường thu hút FDI do những rào cản đầu tư được gỡ bỏ và hoạt động ngoại thương nội khối được tự do. Tác động mang tính động lực sẽ kích thích/đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của các nước thành viên FTA. Tác động mang tính động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế các nước thành viên FTA, nên sẽ có xu hướng tăng nhập khẩu của các nước thành viên FTA từ các nước không thuộc FTA, tất nhiên để làm được điều này hàng hóa của các nước không phải thành viên FTA phải có ưu thế vượt trội so với hàng của các nước thành viên FTA trên khía cạnh giá cả, chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã, thương hiệu, v.v… Tóm lại, ở khía cạnh nào đó, tác động mang tính động lực sẽ có tác động tích cực đối với các nước không phải thành viên FTA.

Những nghiên cứu thực nghiệm (empirical studies) của nhiều tác giả như Shujiro Urata, MisaOkabe v.v… dùng các mô hình toán, kinh tế như Computer General Equilibrium (CGE), Global Trade Analysis Project (GTAP), hay Theory of Gravity v.v…đều cho kết quả đúng như trên, tuy nhiên sự tác động rõ nét, mức độ chuẩn xác hay không, còn tùy thuộc điều kiện của từng quốc gia, từng thời kỳ, số liệu thống kê, và ưu nhược điểm của các mô hình được sử dụng. [10]

3. SỰ ĐA PHƯƠNG HÓA CÁC FTA

Để gia tăng vai trò của FTA, tiến tới FTA toàn cầu và WTO trong việc thúc đẩy tự do hóa thương mại đa biên, đòi hỏi sự gia tăng các nước thành viên của FTA. Việc gia tăng thành viên FTA có thể được thực hiện bằng cách sát nhập các FTA riêng lẻ thành một FTA, chẳng hạn việc hợp nhất các Hiệp định Thương mại tự do song phương giữa Nhật Bản và các nước thành viên ASEAN riêng rẽ thành 1 Hiệp định thương mại tự do đa phương ASEAN – Nhật Bản. Ngoài ra có thể tăng thành viên FTA bằng cách kết nạp thêm các thành viên, hoặc nhóm thành viên mới, như EU đang làm. Ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có thể thiết lập Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương TPP [11] (Trans - Pacific Strategic Economic Partnership Agreement) mà hiện nay Malaysia, Mỹ, Pê ru, Úc, và Việt Nam đang đàm phán để gia nhập. [12]

KẾT LUẬN

Khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu 2008 đã làm lộ rõ những điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống thương mại toàn cầu. Hiện WTO đóng vai trò thúc đẩy tự do hóa thương mại quốc tế, nhằm mang tới sự thịnh vượng cho các quốc gia. Tuy nhiên, WTO cũng đã bộc lộ những bất cập như thời gian đàm phán gia nhập lâu, khó đi đến sự đồng thuận chung giữa các nước thành viên, lĩnh vực bao quát hạn chế, gặp phải sự phản đối của các cá nhân, tổ chức đối kháng, v.v… làm nảy sinh sự hình thành và phát triển mạnh của các FTA. Tuy nhiên mục tiêu vẫn là toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại. Do đó, các FTA có thể tiến tới FTA toàn cầu và WTO thông qua việc hợp nhất các FTA, hoặc kết nạp thêm các thành viên mới. Điều này có vẻ dễ thực hiện, song trong thực tế, sẽ vẫn còn những trở ngại phía trước cần tới thời gian và nỗ lực rất lớn của các nước thành viên.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Shujiro Urata, “Proliferation of FTAs and the WTO” (Sự phổ biến của FTAs và WTO), Working Paper, Tháng 1 năm 2010, trang 1-22.
Website: http://vi.wikipedia.org/wiki/Lehman_Brothershttp://vi.wikipedia.org/wiki/Mercosur.

Nội dung đính kèmTừ FTA đến WTO. pdf

[1] Lehman Brothers (dịch: Anh em nhà Lehman) thành lập năm 1850 bởi ba anh em Henry, Emanuel và Mayer Lehman người Do Thái từ Đức di cư sang Mỹ, là một tập đoàn chứng khoán và tập đoàn ngân hàng đầu tư lớn thứ 4 của Mỹ. Lĩnh vực hoạt động chính của tập đoàn là ngân hàng đầu tư, buôn bán cổ phiếu và trái phiếu, nghiên cứu thị trường, quản lý đầu tư, và ngân hàng tư nhân. Tập đoàn đặt trụ sở chính ở Thành phố New York, và hai trụ sở khác ở London và Tokyo, cũng như nhiều văn phòng đại diện khắp thế giới. Ngày 15/9/2008, Tập đoàn tuyên bố phá sản với khoản nợ 613 tỷ đôla Mỹ sau khi không có công ty nào chấp nhận mua lại. Đây là vụ phá sản ngân hàng lớn nhất trong lịch sử Mỹ. Nguồn Wikipedia website:http://vi.wikipedia.org/wiki/Lehman_Brothers (truy cập ngày 29/4/2012).

[2] Shujiro Urata, “Proliferation of FTAs and the WTO” (Sự phổ biến của FTAs và WTO), Working Paper, 1/2010, trang 1-2.

[3] MFN: Quy chế Tối huệ quốc, được hiểu là nếu một nước dành cho một nước thành viên một sự đối xử ưu đãi nào đó thì nước này cũng sẽ phải dành sự ưu đãi đó cho tất cả các nước thành viên khác. MFN được thể hiện trong Điều 1 của GATT (General Agreement on Tariffts and Trade) - Hiệp định chung về thương mại và thuế quan ra đời 1947.

[4] Ibid. [2], trang 3 (xem trú thích 2, trang 3).

[5] Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ ký kết ngày 12/8/1992, hiệu lực từ ngày 1/1/1994. Nội dung của Hiệp định này là: Giúp cho kinh tế của 3 nước Mỹ, Canada và Mexico được dễ dàng. Cụ thể là việc Mỹ và Canada có thể dễ dàng chuyển giao công nghệ sang Mexico và Mexico cũng dễ dàng chuyển giao nguồn nhân lực sang hai nước kia. Ngoài ra, hiệp định này còn giúp cho 3 nước có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới với các khối như EU, AFTA của ASEAN...

[6] Mercosur (viết tắt từ tiếng Tây Ban Nha: Mercado Común del Sur) hay Mercosul (viết tắt từ tiếng Bồ Đào Nha: Mercado Comum do Sul). Nguồn Wikipedia website: http://vi.wikipedia.org/wiki/Mercosur (truy cập ngày 29/4/2012).

[7] Viết tắt tiếng Anh của Hiệp hội Các nước Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations), ASEAN được thành lập vào ngày 8 tháng 8 năm 1967 với năm quốc gia thành viên đầu tiên là: Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines và Singapore. Tính đến năm 2009, tổ chức này đã kết nạp hầu hết các quốc gia Đông Nam Á làm thành viên như Brunei, Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanma (trừ Đông Timor), chấp nhận Đông Timor và Papua New Guinea làm quan sát viên, và đang xem xét đơn xin gia nhập của Đông Timor.

[8] Ibid. [4], trang 8 (xem trú thích 4, trang 8).

[9] Phạm vi mà WTO điều chỉnh được thể hiện trong các Hiệp định và Quy định, WTO có trên dưới 30 Hiệp định, trong đó các vấn đề chính mà WTO điều chỉnh là thương mại hàng hóa (Hiệp định GATT), thương mại dịch vụ (Hiệp định GATS), đầu tư (Hiệp định TRIMS), sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) v.v…là những lĩnh vực tối quan trọng cho thương mại toàn cầu, tuy nhiên không bao quát vấn đề như môi trường, lao động, di chuyển của tự nhiên nhân, thương mại điện tử v.v… là những lĩnh vực mà các FTA hoàn toàn có thể bao quát.

[10] Xem thêm: Ando and Urata (2007) for survey of CGE studies on East Asian countries (Ando và Urata (2007) khảo sát bằng mô hình CGE đối với các nước Đông Á); Shujiro and Misa Okabe (2007) “The impacts of Free Trade Agreements on Trade Flows: An Application of the Gravity Model Approach, RIETI Disscussion Paper Series 07-E-052 (Shujiro và Misa Okabe (2007), Ảnh hưởng của Hiệp định Thương mại tự do tới Dòng chảy thương mại: Một cách tiếp cận dùng mô hình Lực hấp dẫn, Series bài báo cáo, thảo luận RIETI số 07-E-052).

[11] TPP còn gọi là P4, ban đầu do 4 nước là Brunei, Chi Lê, Niu Di Lân và Singapore ký kết thành lập ngày 3/6/2005, có hiệu lực từ ngày 28/5/2006.

[12] Ibid. [8], trang 17 (xem trú thích 8, trang 17).

Phòng quản lý khoa học và đào tạo sau đại học