TIN TỨC HPU

  Thứ tư, 29/07/2015 - 09:20:17

Bài trích Tạp chí Kinh tế và phát triển từ số 214 đến số 217 năm 2015

Trung tâm Thông tin thư viện trân trọng giới thiệu !
I. TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN SỐ 214 NĂM 2015
1. Lựa chọn hình thức tái cấu trúc sở hữu Ngân hàng tại Việt Nam/ Hạ Thị Thiều Dao// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 214 .- 4/2015 .- Tr. 2-10
Nghiên cứu này giới thiệu bốn hình thức tái cấu trúc sở hữu ngân hàng thường được sử dụng ở các nước; đánh giá sơ lược việc sử dụng các hình thức này trong tái cấu trúc ngân hàng ở Việt Nam và đưa ra những lưu ý cần thiết cho việc lựa chọn hình thức tái cấu trúc sở hữu trong thời gian sắp tới bao gồm: (i) Kêu gọi vốn từ bên ngoài cần hết sức thận trọng; (ii) Sáp nhập, mua lại cần chú ý lợi ích nhóm; (iii) Phá sản cần minh bạch thông tin; (iv) Quốc hữu hóa cần xác định hành lang pháp lý và định giá đúng ngân hàng.
Từ khóa: Tái cấu trúc, ngân hàng, hình thức, quốc hữu hóa.
 
2. Bẫy thu nhập trung bình tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp/ Kenichi Ohno, Lê Hà Thanh// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 214 .- 4/2015 .- Tr. 11-22
Bài viết này trình bày tổng quan về bẫy thu nhập trung bình và chỉ ra các dấu hiệu của việc vướng bẫy thu nhập trung bình của Việt Nam bao gồm (i) tăng trưởng chậm, (ii) năng suất sản xuất mờ nhạt, (iii) thiếu hụt chuyển dịch cơ cấu theo đúng nghĩa, (iv) không có dấu hiệu cải thiện chỉ số khả năng cạnh tranh và (v) nảy sinh nhiều vấn đề do tăng trưởng gây ra. Việt Nam không những cần chỉ ra các bằng chứng khoa học của bẫy thu nhập trung bình mà còn phải đưa ra các chính sách và hành động kiên quyết để vượt qua vấn đề này. Để làm được điều đó, Việt Nam cần một mô hình tăng trưởng mới để tránh bẫy thu nhập trung bình và tiếp tục phát triển để trở thành quốc gia có thu nhập cao trong tương lai. Bài viết đưa ra một số đề xuất cho Việt Nam nhằm chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng số lượng sang tăng trưởng chất lượng thông qua nâng cao năng suất và chuyển giao công nghệ trong liên kết FDI.
Từ khóa: Bẫy thu nhập trung bình, chính sách, Việt Nam

3. Ảnh hưởng của sự trỗi dậy của Trung Quốc đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam/ Nguyễn Hoài Sơn, Hồ Đình Bảo// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 214 .- 4/2015 .- Tr. 23-33
Nghiên cứu đánh giá tác động của sự trỗi dậy của Trung Quốc đến xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2000-2012. Kết quả cho thấy, ảnh hưởng lấn át mạnh nhất trên thị trường Nhật Bản và yếu hơn trên các thị trường khác. Bên cạnh đó, Việt Nam không tận dụng được hết cơ hội xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đang mở rộng. Nguyên nhân là do động lực chính của xuất khẩu Việt Nam sang Trung Quốc là sự ưu tiên quốc gia có lợi cho Việt Nam chứ không phải do sự phù hợp giữa hình thái xuất khẩu của Việt Nam và nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc. Đối với nhóm sản phẩm linh kiện và bán thành phẩm hiện đang là xu hướng thương mại mới nổi của các nước có nguồn lao động dồi dào như Việt Nam, ảnh hưởng lấn át từ Trung Quốc có mức độ thấp hơn so với nhóm hàng hóa hoàn thiện trong khi xuất khẩu nhóm hàng này cũng không đạt được mức kỳ vọng so với nhu cầu ngày càng tăng của Trung Quốc.
Từ khóa: Trung Quốc, Xuất khẩu, Mạng lưới phân đoạn sản xuất

4. Quan hệ giữa tăng trưởng nông nghiệp và công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa Việt Nam: Những vấn đề đặt ra và gợi ý chính sách/ Đinh Phi Hổ, Đinh Nguyệt Bích// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 214 .- 4/2015 .- Tr. 34-42
Tăng trưởng nông nghiệp ảnh hưởng đến tăng trưởng công nghiệp trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, nhưng trong giai đoạn phát triển cao, nông nghiệp có ảnh hưởng hay không? Nếu tăng trưởng nông nghiệp có ảnh hưởng đến tăng trưởng công nghiệp thì để duy trì và nâng cao tốc độ tăng trưởng nông nghiệp cần làm sáng tỏ yếu tố nào ảnh hưởng tới tăng trưởng. Trên cơ sở của mô hình hồi quy tuyến tính, có thể xác định được tăng trưởng nông nghiệp ảnh hưởng đến tăng trưởng công nghiệp cả trong quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam. Tăng trưởng nông nghiệp đang ở trạng thái năng suất biên giảm dần. Vốn đầu tư trong nông nghiệp là yếu tố ảnh hưởng và công nghệ đang đóng góp quan trọng đối với tăng trưởng nông nghiệp. Đồng thời, các tác giả cũng gợi ý 3 nhóm chính sách nhằm phát triển nông nghiệp gồm: (1) Nhận thức đúng về vai trò nông nghiệp; (2) Tăng cường vốn đầu tư cho nông nghiệp; (3) Đẩy nhanh việc ứng dụng và chuyển giao công nghệ mới trong nông nghiệp.
Từ khóa: Quan hệ, nông nghiệp, công nghiệp; Tăng trưởng, kiểm định, tính dừng và đồng liên kết.
 
5. Quan hệ giữa rủi ro hiệp moment bậc cao và lợi nhuận danh mục đầu tư khi xem xét tỷ trọng cổ phiếu trong danh mục theo giá trị - Nghiên cứu trên thị trường chứng khoán Việt Nam/ Võ Xuân Vinh, Nguyễn Quốc Chí// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 214 .- 4/2015 .- Tr. 43-52
Bài báo này nghiên cứu mối quan hệ giữa rủi ro hiệp moment bậc cao và lợi nhuận kỳ vọng danh mục cổ phiếu, trường hợp danh mục tỷ trọng giá trị - value weighted trong các giai đoạn thị trường khác nhau, sử dụng dữ liệu từ các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ 1/2006 đến 12/2013. Kết quả nghiên cứu tìm thấy sự tác động ngược chiều, có ý nghĩa thống kê của phần bù rủi ro coskewness lên lợi nhuận kỳ vọng danh mục cổ phiếu trong giai đoạn thị trường đi xuống – down market. Bài báo không tìm thấy sự tác động có ý nghĩa thống kê của các yếu tố rủi ro covariance, cokurtosis và tác động phi tuyến của các yếu tố rủi ro hiệp moment bậc cao.
Từ khóa: Rủi ro, hiệp moment bậc cao, lợi nhuận, chứng khoán, coskewness, cokurtosis, covariance.

6. Nhu cầu vay vốn để chữa bệnh của hộ gia đình có người mắc bệnh mãn tính tại thành phố Hồ Chí Minh/ Nguyễn Minh Hà, Nguyễn Quang Chung, Lê Khoa Huân// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 214 .- 4/2015 .- Tr. 53-63
Với mục tiêu xác định các yếu tố tác động đến nhu cầu vay vốn của hộ gia đình có người đang mắc bệnh mãn tính để trang trải chi phí chăm sóc sức khỏe và trong quá trình điều trị của bệnh nhân, nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu điều tra khảo sát thực tế 500 hộ gia đình có người đang điều trị nội trú các bệnh mãn tính ở các bệnh viện tại Thành phố Hồ Chí Minh, và sử dụng phương pháp định lượng hồi qui Binary Logistic. Kết quả ước lượng cho thấy các yếu tố có tác động âm đến nhu cầu vay vốn của hộ là Tuổi chủ hộ, Trình độ văn hóa của chủ hộ, Tổng thu nhập hàng tháng của hộ, Tổng tài sản của hộ, Chủ hộ thường xuyên nhận được sự tài trợ vật chất từ người thân. Các yếu tố có tác động dương đến nhu cầu vay vốn của hộ là Số ngày nằm viện và Số thành viên trong hộ. Đồng thời, việc tham gia bảo hiểm y tế của người bệnh giúp hộ gia đình ít có nhu cầu vay vốn.
Từ khóa: Bệnh mãn tính, hộ gia đình, vay vốn

7. Ảnh hưởng của các nhân tố rào cản chuyển mạng tới sự trung thành của khách hàng- Bằng chứng từ thị trường viễn thông di động Tuyên Quang/ Đào Trung Kiên, Lê Đức Tuấn, Bùi Quang Tuyến, Hồ Đức Hải// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 214 .- 4/2015 .- Tr. 64-73
Thị trường viễn thông di động Việt Nam đang dần trở lên bão hòa. Việc giữ chân khách hàng đang tạo áp lực lên các nhà cung cấp, đặc biệt là khi xu hướng cho phép “chuyển mạng giữ số” sẽ được thực hiện trong tương lai gần. Nghiên cứu này được thiết kế để đo lường ảnh hưởng của các nhân tố rào cản chuyển mạng tới dịch vụ viễn thông di động. Phương pháp nghiên cứu sử dụng là các phương pháp phân tích đa biến (kiểm định tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá, tương quan, hồi quy). Kết quả nghiên cứu từ 897 khách hàng tại Tuyên Quang cho thấy có 05 nhân tố ảnh hưởng tới sự trung thành khách hàng là (1) chất lượng cuộc gọi, (2) thái độ phục vụ, (3) tổn thất chuyển đổi, (4) sự thuận tiện và (5) tiện ích giao dịch.Trong đó nhân tố thái độ phục vụ có ảnh hưởng ngược chiều với tính trung thành khách hàng.
Từ khóa: Trung thành khách hàng, dịch vụ viễn thông di động, rào cản chuyển mạng

8. Đào tạo quá mức ở Việt Nam: Kết quả từ phân tích hồi quy nhị phân/ Hoàng Khắc Lịch, Vũ Đức Thanh// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 214 .- 4/2015 .- Tr. 74-80
Vấn đề đào tạo quá mức được nêu ra từ những năm 1970, khi mà số lượng lao động tốt nghiệp cao đẳng và đại học tăng lên nhanh chóng ở Mỹ dẫn tới sự sụt giảm về lợi ích của đào tạo. Chủ đề này sau đó tiếp tục được bàn tới ở nhiều nước khác nhau do cũng phải đối mặt với một vấn đề tương tự như thế. Ở Việt Nam, những biểu hiện của đào tạo quá mức ngày càng thể hiện rõ nét hơn trong những năm gần đây, tuy nhiên dường như không có nghiên cứu nào chỉ ra một cách cụ thể những đối tượng dễ có khả năng đào tạo quá mức. Do vậy, bằng phương pháp phân tích hồi quy nhị phân với số liệu khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2010, bài viết này sẽ là sự bổ sung cần thiết cho mảng kiến thức còn mới mẻ này ở nước ta.
Từ khóa: Đào tạo; Thất nghiệp; Trường nghề; Giáo dục; Lao động.
 
II. TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN SỐ 215 NĂM 2015
1. Một số giải pháp cho đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực bất động sản Việt Nam/ Lê Quốc Hội, Phạm Văn Hùng, Hoàng Thị Xuyên// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 215 .- 5/2015 .- Tr. 2-9
Bài viết này đánh giá những đóng góp tích cực và những tồn tại tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong lĩnh vực bất động sản ở Việt Nam. Kết quả cho thấy FDI vào lĩnh vực bất động sản thời gian qua đã có những đóng góp nhất định như thúc đẩy sự phát triển thị trường bất động sản, đóng góp tích cực như phát triển cơ sở hạ tầng, bổ sung vốn, giải quyết vấn đề công ăn việc làm cho người lao động, đóng góp vào tăng nguồn thu cho ngân sách, giải quyết khó khăn về cung bất động sản có chất lượng cao cho người dân… Tuy nhiên, FDI trong lĩnh vực bất động sản cũng còn có những tồn tại nhất định và gây bất ổn kinh tế vĩ mô. Bài viết cũng đề xuất giải pháp thu hút và quản lý FDI vào lĩnh vực bất động sản thời gian tới.
Từ khóa: FDI, bất động sản, Việt Nam

2. Quản trị doanh nghiệp với kết quả hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân lớn ở Việt Nam/ Lê Quang Cảnh, Lương Thái Bảo, Nguyễn Vũ Hùng// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 215 .- 5/2015 .- Tr. 10-19
Dựa trên dữ liệu từ ba cuộc khảo sát, nghiên cứu này phân tích tác động của quản trị doanh nghiệp tới kết quả hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân lớn ở Việt Nam. Năm biến đại diện cho quản trị doanh nghiệp và ba biến đại diện cho kết quả hoạt động của doanh nghiệp đã được sử dụng trong mô hình ước lượng. Kết quả ước lượng chỉ ra rằng tính chất nhị nguyên của CEO có tác động tích cực tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp, trong khi sự mở rộng thành viên ban giám đốc tác động tiêu cực. Kết quả thực nghiệm thu được tương tự nhau xét theo khía cạnh về ngành/lĩnh vực, doanh nghiệp có xuất–nhập khẩu, và giữa các doanh nghiệp có CEO là nam và nữ; trong khi sự độc lập của ban giám đốc không có mối liên hệ nào tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm và làm sáng tỏ nhận thức về tác động của quản trị doanh nghiệp tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp tư nhân lớn ở Việt Nam.
Từ khóa: Quản trị, doanh nghiệp, Doanh nghiệp tư nhân, Tập đoàn kinh tế tư nhân.

3. Tác động của môi trường thể chế đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước/ Phạm Thế Anh, Chu Thị Mai Phương// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 215 .- 5/2015 .- Tr. 20-32
Nghiên cứu này phân tích tác động của môi trường thể chế kinh doanh đến kết quả hoạt động, theo doanh thu nội địa và doanh thu xuất khẩu, của doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước ở Việt Nam trong giai đoạn 2006-2012. Kết quả thực nghiệm cho thấy, hầu hết các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh đều tác động tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó tác động của môi trường thể chế lên hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FDI là mạnh hơn doanh nghiệp trong nước. Phát hiện này là sự khẳng định về sự cần thiết thực thi các chính sách liên quan đến việc cải thiện chất lượng môi trường kinh doanh đối với việc nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới.
Từ khóa: Thể chế, môi trường, kinh doanh, doanh nghiệp, doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp trong nước.
 
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán viên- Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam/ Nguyễn Thị Phương Hồng, Hà Hoàng Nhân// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 215 .- 5/2015 .- Tr. 33-42
Tính độc lập của kiểm toán viên đóng một vai trò quan trọng trong suốt quá trình kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC). Theo các nghiên cứu trước đây tại các quốc gia khác nhau, có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán viên như: việc cung cấp các dịch vụ phi kiểm toán khi đồng thời cung cấp dịch vụ kiểm toán, sự phụ thuộc về kinh tế đối với một số khách hàng, sự cạnh tranh của thị trường kiểm toán… Kết quả của nghiên cứu này cho thấy quan điểm của người sử dụng BCTC và kiểm toán viên về mức độ ảnh hưởng của một số nhân tố đến tính độc lập của kiểm toán viên. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đã tìm thấy có sự khác biệt về quan điểm giữa người sử dụng BCTC và kiểm toán viên trong việc đánh giá mức độ ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán viên của một số nhân tố. Tác giả cũng gợi ý một số giải pháp nhằm đảm bảo và làm tăng tính độc lập của kiểm toán viên phù hợp với thực tế Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Tính độc lập, Kiểm toán, Báo cáo, tài chính
 
5. Chất lượng dịch vụ trên thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam/ Phạm Thị Định, Nguyễn Thành Vinh// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 215 .- 5/2015 .- Tr. 43-50
Trong những năm gần đây, sự phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã có dấu hiệu chững lại. Có nhiều nguyên nhân, xét cả về mặt khách quan và chủ quan, trong đó có vấn đề chất lượng dịch vụ bảo hiểm. Bài viết này xin được trình bày một số kết quả nghiên cứu của chúng tôi đánh giá về chất lượng dịch vụ bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam dựa trên mô hình SERVQUAL của Parasuraman. Đa số các nhân tố mà nghiên cứu đưa ra, mức độ đánh giá của khách hàng là hài lòng. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng còn một số nhân tố có mức độ đánh giá dưới mức hài lòng và chủ yếu nằm ở 3 nội dung: (1) Các nhân tố thuộc về năng lực chuyên môn của nhân viên/đại lý bảo hiểm, (2) Các nhân tố liên quan đến sự bao phủ của hệ thống kênh phân phối và (3) Các nhân tố liên quan đến việc giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng.
Từ khóa: Bảo hiểm, Bảo hiểm nhân thọ, Chất lượng, dịch vụ, Việt Nam
 
6. Phân tích hành vi lựa chọn phương tiện giao thông của người dân đô thị Việt Nam: Nghiên cứu điển hình thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ/ Nguyễn Trọng Hoài, Hồ Quốc Tuấn// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 215 .- 5/2015 .- Tr. 51-58
Nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn phương tiện giao thông cho mục đích công việc của người dân tại Tp. Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Điểm nổi bật của nghiên cứu là xem xét ảnh hưởng của các yếu tố thái độ và hành vi liên quan đối với môi trường đến việc lựa chọn phương tiện giao thông. Mô hình logit đa lựa chọn được áp dụng để kiểm chứng tác động đến khả năng lựa chọn loại phương tiện của các nhóm yếu tố: đặc điểm cá nhân, đặc điểm phương tiện và chuyến đi, thái độ đối với môi trường, và phản ứng với chính sách hạn chế phương tiện cá nhân. Kết quả cho thấy hầu hết các yếu tố nói trên đều ảnh hưởng có ý nghĩa đến xác suất lựa chọn phương tiện. Quan trọng hơn, các yếu tố thái độ, nhận thức và mức độ sẵn lòng hành động vì môi trường, và yếu tố sự thay đổi phương tiện khi có chính sách hạn chế, tác động có ý nghĩa đến sự lựa chọn phương tiện.
Từ khóa: Hành vi, phương tiện giao thông, mô hình logit đa lựa chọn
 
7. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính: Nghiên cứu điển hình tại các công ty cổ phần phi tài chính niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh/ Chu Thị Thu Thủy, Nguyễn Thanh Huyền, Ngô Thị Quyên// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 215 .- 5/2015 .- Tr. 59-66
Mục tiêu của nghiên cứu là xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của công ty từ đó đưa ra một số gợi ý đối với các nhà quản trị để nâng cao hiệu quả tài chính. Nghiên cứu sử dụng số liệu của 230 công ty cổ phần phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) giai đoạn năm 2011-2013 trong 14 ngành. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng hiệu quả tài chính (ROA) của các công ty bị ảnh hưởng đáng kể bởi tỷ lệ vốn nhà nước, đòn bẩy tài chính, năng lực quản lý, quy mô công ty, khả năng thanh toán nhanh và chu kỳ sản xuất kinh doanh của công ty. Mặt khác, nghiên cứu cũng chỉ ra tác động dương (+) của ROA lên tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE).
Từ khóa: Chu kỳ, sản xuất, kinh doanh, hiệu quả tài chính, công ty cổ phần.
 
8. Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi mua điện thoại di động của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh/ Hà Thanh Việt, Vũ Thị Nữ// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 215 .- 5/2015 .- Tr. 67-75
Nghiên cứu này xem xét các nhân tố tác động đến hành vi mua điện thoại di động của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu được thu thập từ 200 người tiêu dùng đang sử dụng điện thoại di động tại thành phố Hồ Chí Minh thông qua phiếu điều tra. Công cụ SPSS 16.0 được sử dụng để phân tích kết quả khảo sát. Kết quả chỉ ra rằng hành vi mua điện thoại di động của người tiêu dùng phụ thuộc vào bốn nhân tố, cụ thể là: Khuyến mãi; Thương hiệu và tính năng; Bán hàng và cung cấp dịch vụ; và Giá cả. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng đến hành vi mua của bốn yếu tố là khác nhau. Cuối cùng, tác giả đưa ra một số kiến nghị để giúp các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh điện thoại nâng cao năng lực cạnh tranh của họ trên thị trường.
Từ khóa: Điện thoại di động, hành vi mua, nhân tố, ảnh hưởng.
 
9. Tác động của việc sử dụng người nổi tiếng trong quảng cáo đến thái độ của người tiêu dùng/ Phạm Thị Minh Lý, Nguyễn Thúy Vy// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 215 .- 5/2015 .- Tr. 76-86
Bài nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá cảm nhận của người tiêu dùng về các yếu tố của người nổi tiếng ảnh hưởng đến thái độ đối với quảng cáo và thương hiệu. Nghiên cứu đã được thực hiện trên cơ sở thu thập ý kiến của người tiêu dùng thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu sử dụng mô hình của Ohanian (1990) và kết hợp với các nghiên cứu khác để xây dựng thang đo phù hợp với thị trường Việt Nam. Nghiên cứu sơ bộ sử dụng phương pháp định tính và phương pháp định lượng cho nghiên cứu chính thức. Kết quả đã xác định được 8 nhân tố ảnh hưởng đến thái độ quảng cáo được sắp xếp theo mức độ quan trọng lần lượt là: (1) sự phù hợp giữa người nổi tiếng và thương hiệu, (2) thông tin tiêu cực, (3) hấp dẫn về ngoại hình, (4) yêu thích, (5) đáng tin cậy, (6) tương đồng, (7) kinh nghiệm, (8) thành tựu. Kết quả cũng xác định được thái độ đối với quảng cáo ảnh hưởng đến thái độ đối với thương hiệu.
Từ khóa: Thái độ, thương hiệu, quảng cáo, bảo chứng, người nổi tiếng.
 
III. TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN SỐ 216 NĂM 2015
1. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế cho phát triển thị trường tài chính trong điều kiện hội nhập/ Nguyễn Quốc Toản// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 216 .- 6/2015 .- Tr. 2-9
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm, chú trọng đến việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó việc hoàn thiện thể chế cho các loại thị trường, nhất là thị trường tài chính và đã đạt một số kết quả ban đầu. Tuy nhiên khung pháp lý của thị trường tài chính tại Việt Nam còn chưa đồng bộ; quy mô, cấu trúc và trình độ thị trường còn chưa tương xứng; công tác xây dựng các quy định pháp luật, ban hành các chính sách điều hành thị trường còn chưa theo kịp với tiến trình hội nhập của thị trường. Những thách thức, yêu cầu về cải cách các loại thị trường bậc cao khi hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng đòi hỏi việc hoàn thiện thể chế cho sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam cần được đánh giá cụ thể và có những giải pháp then chốt, nhất là những giải pháp về khung pháp lý, tái cấu trúc, nâng cao chất lượng thị trường nhằm tạo sự tương thích với các chuẩn mực quốc tế và tạo động lực phát triển cho thị trường tài chính trong nước.
Từ khóa: Thể chế; kinh tế; Thị trường; tài chính; Hội nhập; Việt Nam
 
2. Hoàn thiện thể chế quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng ở Việt Nam/ Trần Kim Chung// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 216 .- 6/2015 .- Tr. 10-17
Thể chế quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng là sự giao thoa giữa vấn đề thể chế, vấn đề quy hoạch và vấn đề phát triển kết cấu hạ tầng. Đây là một chủ đề rất quan trọng trong bối cảnh hiện tại ở Việt Nam. Nghiên cứu này chỉ ra rằng thể chế quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng của Việt Nam đã có những nền móng ban đầu để định hướng cho phát triển kết cấu hạ tầng nhưng còn thiếu cả về cơ sở pháp lý, cả về lực lượng triển khai và hệ thống thanh tra kiểm tra giám sát và chế tài. Vì vậy, để hỗ trợ phát triển kinh tế, phát triển kết cấu hạ tầng, hệ thống thể chế quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng Việt Nam cần tập trung đổi mới cả về trí tuệ, nhận thức, tài chính và con người trong lĩnh vực này.
Từ khóa: Thể chế, quy hoạch, kết cấu, hạ tầng, phát triển.
 
3. Ảnh hưởng của bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam/ Nguyễn Thanh Hằng// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 216 .- 6/2015 .- Tr. 18-25
Bài báo tập trung phân tích ảnh hưởng của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam (có tính đến một số nhân tố khác được cho là có tác động đến tăng trưởng kinh tế) dựa trên mô hình phân tích trong nghiên cứu trước đây của Li và Zou (1998). Các mô hình được sử dụng gồm có OLS gộp, tác động cố định và tác động ngẫu nhiên, sử dụng bộ số liệu VHLSS từ 2002 đến 2012. Việc sử dụng các mô hình này nhằm so sánh, đối chiếu tác động của một số nhân tố trong diện phân tích đến tăng trưởng kinh tế, để đánh giá mức độ ảnh hưởng và chiều tác động. Kết quả phân tích cho thấy bất bình đẳng trong thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở nước ta giai đoạn 2002-2012 có mối liên hệ thuận chiều với mức tin cậy khá cao.
Từ khóa: Bất bình đẳng, tăng trưởng, OLS gộp, tác động cố định, tác động ngẫu nhiên
 
4. Cơ cấu thương mại của Việt Nam: Những thách thức mang tính dài hạn/ Nguyễn Chiến Thắng, Trần Văn Hoàng// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 216 .- 6/2015 .- Tr. 26-36
Bài viết sử dụng các nguồn số liệu thương mại đa dạng (Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan và cơ sở dữ liệu COMTRADE của Liên hợp quốc) để phân tích cơ cấu thương mại (xuất, nhập khẩu) của Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 - 2013 theo các tiêu chí khác nhau như trình độ công nghệ, cơ cấu sở hữu, cơ cấu thị trường và mục đích sử dụng (hàng tiêu dùng, hàng hóa trung gian,...). Kết quả phân tích cho thấy cơ cấu thương mại giai đoạn vừa qua bộc lộ nhiều thách thức mang tính dài hạn như cơ cấu xuất khẩu chủ yếu tập trung vào các hàng hóa có giá trị gia tăng thấp, tình trạng nhập siêu kéo dài và tập trung nhập siêu từ thị trường Trung Quốc và nhập khẩu công nghệ chất lượng thấp từ thị trường này. Từ đó một số kiến nghị chính sách được đề xuất nhằm cải thiện cơ cấu thương mại, giải quyết những bất cập mang tính dài hạn trên.
Từ khóa: Cơ cấu, thương mại; xuất khẩu; nhập khẩu; trình độ, công nghệ; nhập siêu; công nghiệp, phụ trợ.
 
5. Ứng dụng mô hình SVAR nghiên cứu kênh truyền dẫn tiền tệ và gợi ý chính sách tiền tệ ở Việt Nam/ Cao Thị Ý Nhi, Lê Thu Giang// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 216 .- 6/2015 .- Tr. 37-47
Bài viết nghiên cứu về mô hình tự hồi quy véc tơ dạng cấu trúc (SVAR) lý thuyết và ứng dụng mô hình này trong nghiên cứu kênh truyền dẫn tiền tệ ở Việt Nam. Các kết quả phân tích định lượng phản ánh tác động của các nhân tố trong nước thông qua các kênh truyền dẫn đến các mục tiêu của chính sách tiền tệ (CSTT) ở Việt Nam giai đoạn từ 1995 đến 2014. Đồng thời đưa ra những gợi ý chính sách nhằm tăng cường hiện thực hóa mục tiêu của chính sách tiền tệ đến năm 2020, nhằm giúp cho công tác điều hành chính sách tiền tệ trong lý luận cũng như thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Chính sách, tiền tệ, cơ chế, truyền dẫn, mô hình tự hồi quy véc tơ dạng cấu trúc (SVAR)
 
6. Cấu trúc và mức độ phụ thuộc giữa thị trường chứng khoán Việt Nam và một số thị trường thế giới- Tiếp cận bằng phương pháp hồi quy phân vị/ Nguyễn Thu Thủy// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 216 .- 6/2015 .- Tr. 48-56
Bài báo tập trung đánh giá sự thay đổi cấu trúc và mức độ phụ thuộc giữa các thị trường chứng khoán khi xảy ra khủng hoảng sử dụng phương pháp hồi quy phân vị. Trong phần thực nghiệm, chúng tôi ứng dụng mô hình lý thuyết cho số liệu chuỗi thời gian là chuỗi lợi suất của chỉ số thị trường chứng khoán Việt Nam và một số quốc gia như: Nhật, Pháp, Anh, Hồng Kông, Indonesia, Úc, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Thượng Hải và Mỹ (gồm 3 chỉ số S&P500, Dowjones và Nasdaq). Bộ dữ liệu gồm 2479 quan sát trong giai đoạn từ 21/6/2004 đến 19/6/2014. Kết quả cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đã làm thay đổi cấu trúc và mức độ phụ thuộc giữa thị trường chứng khoán Việt Nam và một số thị trường chứng khoán thế giới được nghiên cứu. Các thông tin chi tiết về cấu trúc và mức độ phụ thuộc này có ý nghĩa quan trọng cho việc đánh giá một cách đúng đắn lợi ích của việc đa dạng hóa trong thời kỳ thị trường hoạt động bình thường và khi thị trường khủng hoảng.
Từ khóa: Cấu trúc phụ thuộc, hồi quy phân vị, khủng hoảng tài chính thế giới, mức độ phụ thuộc, thị trường chứng khoán.
 
7. Phong cách sống và tiêu dùng xanh dưới góc nhìn của lý thuyết hành vi có kế hoạch/ Nguyễn Vũ Hùng, Nguyễn Hùng Cường, Hoàng Lương Vinh// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 216 .- 6/2015 .- Tr. 57-65
Tiêu dùng xanh có ý nghĩa quan trọng với phát triển kinh tế cả ở góc độ vĩ mô và vi mô. Vì vậy, hiểu biết về các nhân tố ảnh hưởng tới ý định và hành vi tiêu dùng xanh là rất cần thiết. Trong nghiên cứu này, chúng tôi kiểm định các mối quan hệ giữa các dạng phong cách sống khác nhau với ý định và hành vi mua sản phẩm xanh. Các mối quan hệ được giải thích dưới góc nhìn của lý thuyết hành vi có kế hoạch. Kết quả nghiên cứu ủng hộ các mối quan hệ này và vì vậy đóng góp thêm vào hệ thống lý thuyết hiện hành.
Từ khóa: Lý thuyết, hành vi, kế hoạch, sản phẩm xanh, Phong cách sống, Tiêu dùng xanh.
 
8. Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hợp tác giữa nhà phân phối và các nhà sản xuất đối với sản phẩm hàng tiêu dùng ở Việt Nam/ Đặng Văn Mỹ// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 216 .- 6/2015 .- Tr. 66-75
Bài báo này giới thiệu kết quả nghiên cứu thăm dò bằng phương pháp định lượng trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa các nhà sản xuất và các nhà phân phối trong lĩnh vực hàng tiêu dùng nhằm phát triển quan hệ hợp tác. Mục tiêu của nghiên cứu là xác định và giải thích sự phát triển quan hệ hợp tác, các yếu tố cấu thành và nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hợp tác giữa các chủ thể theo quan điểm của các nhà phân phối bán lẻ. Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy rằng quan hệ hợp tác lẫn nhau giữa các thành viên là quá trình phát triển cao của quan hệ trao đổi và cùng giải quyết các mâu thuẫn phát sinh. Quan hệ trao đổi hợp tác phụ thuộc vào các yếu tố then chốt như: sự tin tưởng, sự cam kết, sự phụ thuộc lẫn nhau, sự thông tin và truyền thông và quan hệ cá nhân.
Từ khóa: Quan hệ, marketing; kênh phân phối; hợp tác; uy tín; niềm tin.
 
9. Kế toán hoạt động khám chữa bệnh dịch vụ tại bệnh viện công: Thực trạng và đề xuất/ Huỳnh Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Mạnh Toàn// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 216 .- 6/2015 .- Tr. 76-84
Việc triển khai cơ chế tự chủ tài chính đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của hoạt động khám chữa bệnh dịch vụ tại các bệnh viện công. Bên cạnh những lợi ích đối với xã hội và bản thân các bệnh viện, vẫn còn những quan ngại liên quan đến việc mở rộng cơ chế tự chủ tài chính, sử dụng các nguồn lực của Nhà nước đầu tư cho hoạt động khám chữa bệnh dịch vụ… Chính vì thế, cung cấp đầy đủ thông tin kế toán về hoạt động khám chữa bệnh dịch vụ tại bệnh viện công là một yêu cầu cần thiết nhằm quản lý và nâng cao hiệu quả của hoạt động này. Trong khuôn khổ bài viết, các tác giả sẽ phân tích yêu cầu cũng như đánh giá thực tế công tác kế toán đối với hoạt động khám chữa bệnh dịch vụ tại các bệnh viện công, từ đó đưa ra những đề xuất để hoàn thiện công tác này.
Từ khóa: Bệnh viện công, kế toán, khám chữa bệnh dịch vụ, tự chủ tài chính.
 
IV. TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN SỐ 217 NĂM 2015
1. Phát triển kết cấu hạ tầng ở Vệt Nam/ Nguyễn Quang Vinh// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 217 .- 7/2015 .- Tr. 2-10
Kết cấu hạ tầng đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia. Bài viết này phân tích và đánh giá những thành tựu và hạn chế trong phát triển kết cấu hạ tầng ở Việt Nam trong thời gian qua. Kết quả cho thấy hệ thống kết cấu hạ tầng đã được tập trung đầu tư, có bước phát triển mạnh và từng bước đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, hệ thống kết cấu hạ tầng vẫn còn yếu kém, lạc hậu, không đồng bộ và ngày càng bộc lộ những bất cập. Sự yếu kém của kết cấu hạ tầng hiện được coi là một “nút cổ chai” đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Vì vậy, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp để đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng đảm bảo phát triển bền vững trong thời gian tới.
Từ khóa: Kết cấu hạ tầng; phát triển; Việt Nam

2. Đánh giá tác động tương đối đến tăng trưởng kinh tế của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa/ Trần Thọ Đạt, Hà Quỳnh Hoa// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 217 .- 7/2015 .- Tr.11-19
Chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách tài khóa (CSTK) là hai chính sách đặc biệt quan trọng trong điều hành kinh tế. Tuy nhiên, hiệu quả tương đối của hai chính sách này vẫn là chủ đề được bàn luận nhiều ở cả khía cạnh lý thuyết và thực tế. Bài viết này đánh giá tác động tương đối của CSTT và CSTK đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam thời kỳ 2001-2014 theo cách tiếp cận VAR cấu trúc đệ quy. Kết quả từ phân tích hàm phản ứng và phân rã phương sai cho thấy CSTT có ảnh hưởng tương đối mạnh hơn so với CSTK trong điều tiết tăng trưởng.
Từ khóa: Chính sách, tiền tệ, tài khóa, hiệu quả.

3. Đo lường hiệu quả hoạt động kinh tế vĩ mô - Nguy cơ tụt hậu của Việt Nam/ Vũ Kim Dũng, Hồ Đình Bảo, Nguyễn Thanh Tùng// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 217 .- 7/2015 .- Tr. 20-28
Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu đo lường hiệu quả hoạt động kinh tế vĩ mô của nền kinh tế Việt Nam trong mối quan hệ tương đối với các nền kinh tế khác trong khu vực giai đoạn 1996-2012. Hiệu quả hoạt động kinh tế vĩ mô được đo lường bằng mô hình FDH trên cơ sở tổng hợp 4 chiều của chỉ số Magic Diamond – tăng trưởng kinh tế, cán cân thương mại, tỷ lệ có việc làm và mức độ ổn định giá - nhưng không áp đặt trọng số cố định cho mỗi chiều một cách chủ quan mà dựa trên số liệu của mỗi nền kinh tế ở mỗi thời kỳ khác nhau. Kết quả tính toán thực nghiệm cho thấy hiệu quả hoạt động kinh tế vĩ mô của Việt Nam giai đoạn 1996-2012 ở mức thấp so với tiềm năng và có xu hướng giảm dần trong mối quan hệ với các nền kinh tế khác trong khu vực. Nguy cơ tụt hậu được thể hiện khá rõ qua kết quả nghiên cứu, đặc biệt so với nền kinh tế “lấn át” gần nhất. Điều này đặt ra yêu cầu phải đưa ra những chính sách cải cách mang tính “đột phá” chứ không chỉ là những điều chỉnh chính sách nhỏ trong điều hành nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế vĩ mô của Việt Nam.
Từ khóa: Data Envelopment Analysis (DEA), Mô hình FDH, hiệu quả, kinh tế vĩ mô, mức lãng phí/thiếu hụt, Chỉ số Magic Diamond.
 
4. Hiệu ứng ngưỡng trong mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam/ Hồ Thị Lam// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 217 .- 7/2015 .- Tr. 29-37
Bài viết là một nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian trong giai đoạn 1980-2014 và áp dụng cách tiếp cận ARDL bounds test được phát triển bởi Pesaran và các cộng sự (2001) để kiểm định mối quan hệ đồng liên kết trong dài hạn giữa các biến, tác giả tìm thấy lạm phát và tăng trưởng kinh tế cũng như các biến kiểm soát có mối liên hệ mật thiết với nhau cả trong ngắn hạn và dài hạn. Ngoài ra, nghiên cứu xem xét liệu có tồn tại hiệu ứng ngưỡng trong mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hay không. Kết quả là đáng chú ý với mức ngưỡng được tìm thấy là 8%. Có nghĩa rằng quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng không phải là tuyến tính, tương quan là dương trong khoảng dưới ngưỡng và khi lạm phát vượt ngưỡng thì tương quan trở nên âm.
Từ khóa: ARDL, Hiệu ứng ngưỡng, Lạm phát, Tăng trưởng

5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hối lộ của các công ty cổ phần/ Võ Văn Dứt, Nguyễn Thị Yến Nhi// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 217 .- 7/2015 .- Tr. 38-45
Mục tiêu của bài viết này là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hối lộ của các công ty cổ phần. Sử dụng Lý thuyết đại diện (Agency theory) để phát triển các giả thuyết nghiên cứu liên quan. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu tại 314 công ty cổ phần ở Việt Nam được trích từ Bộ dữ liệu điều tra của Tổng cục thống kê và sử dụng mô hình phi tuyến tính Probit và Tobit để kiểm định các giả thuyết. Kết quả kiểm định cho biết rằng, sự không tách biệt quyền sở hữu-quản lý có mối tương quan nghịch với khả năng tham gia hối lộ của các công ty cổ phần. Ngoài ra, kết quả còn chỉ rằng, nhà quản lý là nữ ít hối lộ hơn nhà quản lý là nam giới. Các tranh luận về mặt lý thuyết trong nghiên cứu này được phát triển để tăng cường giá trị về mặt học thuật; và những hàm ý về chính sách cũng được đề nghị góp phần giảm tình trạng hối lộ hiện nay ở các công ty cổ phần.
Từ khóa: Hối lộ, công ty cổ phần, quyền sở hữu, quản lý

6. Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm sú thâm canh và bán thâm canh ở đồng bằng sông Cửu Long/ Phạm Lê Thông, Đặng Thị Phượng// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 217 .- 7/2015 .- Tr.46-55
Hiệu quả kinh tế trong nghiên cứu này được ước lượng từ hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên dạng Cobb-Douglas, dựa trên số liệu sơ cấp thu thập từ 398 hộ ở đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu cho thấy năng suất bình quân là 3,2 tấn/ha/vụ. Giá thành sản xuất của 1 kg tôm nguyên liệu là 111,1 ngàn đồng/kg, giá bán tôm trung bình là 168,6 ngàn đồng/kg nên lợi nhuận đạt được 57,5 ngàn đồng/kg. Mức hiệu quả kinh tế của mô hình đạt trung bình 49% và số hộ nuôi đạt mức hiệu quả kinh tế dưới 50% chiếm gần phân nửa tổng số hộ khảo sát. Lợi nhuận mất đi do kém hiệu quả của mô hình bình quân là 263 triệu đồng/ha/vụ. Điều này cho thấy tiềm năng cải thiện lợi nhuận của nông hộ còn rất lớn. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hiệu quả kinh tế của mô hình thâm canh và bán thâm canh phụ thuộc vào nguồn lực sản xuất và các đặc điểm kỹ thuật của quá trình nuôi.
Từ khóa: Đồng bằng sông Cửu Long; hiệu quả, kinh tế; thâm canh; bán thâm canh; tôm sú.
 
7. Xây dựng chỉ tiêu đánh giá du lịch bền vững: Nghiên cứu điển hình tại thành phố Nha Trang/ Lê Chí Công// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 217 .- 7/2015 .- Tr. 56-64
Mục đích của nghiên cứu này là sử dụng phương pháp Delphi để xây dựng hệ thống chỉ tiêu giúp đánh giá phát triển bền vững du lịch biển đảo. Nghiên cứu phỏng vấn bảy chuyên gia trong lĩnh vực du lịch thông qua hai vòng đánh giá. Kết quả cho thấy có tám chỉ tiêu đã bị loại bỏ và 28 chỉ tiêu còn lại đã được lựa chọn cho trường hợp tại Nha Trang. Kết quả đã cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà quản lý ngành du lịch, những đơn vị kinh doanh du lịch trong việc ra các quyết định quản lý, đặc biệt là chú trọng cung cấp các sản phẩm/dịch vụ du lịch góp phần phát triển bền vững du lịch biển đảo.
Từ khóa: Chỉ tiêu; du lịch, biển đảo; phát triển, bền vững; Delphi

8. Nghiên cứu sự đa dạng nguồn thu nhập hộ gia đình vùng duyên hải Nam Trung Bộ/ Ông Nguyễn Chương, Trần Như Quỳnh// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 217 .- 7/2015 .- Tr. 65-74
Trong những năm qua, Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ đã đạt được tăng trưởng kinh tế tương đối cao, cải thiện đáng kể thu nhập bình quân đầu người cũng giảm tỷ lệ hộ nghèo. Tuy nhiên, Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ vẫn chỉ đứng dưới mức thu nhập trung bình của cả nước; đa số người dân vẫn sống ở khu vực nông thôn và tham gia trong lĩnh vực nông nghiệp. Bài viết đánh giá các đặc điểm về sự đa dạng nguồn thu nhập hộ gia đình của Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ trong những năm qua; và ứng dụng mô hình hồi qui bị chặn Tobit và phương pháp bình phương nhỏ nhất 2 giai đoạn (2SLS) nhằm đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sự đa dạng hóa và thu nhập hộ gia đình Vùng duyên hải Nam Trung Bộ; từ đó đề xuất các khuyến nghị chính sách đối với Chính phủ và chính quyền các tỉnh Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.
Từ khóa: Hộ gia đình, thu nhập, đa dạng hóa, nhân tố, mô hình Tobit, Duyên hải Nam Trung Bộ
 
9. Quản lý sử dụng vốn của Quỹ bảo vệ môi trường Hà Nội: Thực trạng và vấn đề/ Phạm Thị Lan, Mai Ngọc Cường// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 217 .- 7/2015 .- Tr. 75-81
Bài viết làm rõ thực trạng việc quản lý sử dụng vốn cho vay với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay và tài trợ của Quỹ Bảo vệ môi trường Hà Nội cho các hoạt động bảo vệ môi trường trên địa bàn. Kết quả cho thấy, bên cạnh những đóng góp cho sự phát triển kinh tế- xã hội Thủ đô, công tác quản lý sử dụng vốn của Quỹ Bảo vệ môi trường Hà Nội đang có nhiều bất cập. Theo thang đánh giá Likert 5, trong đó 5 là điểm đánh giá cao nhất, thì ngoài việc sử dụng vốn đúng mục đích, đúng đối tượng, còn lại hầu hết các chỉ tiêu khác trong nội dung quản lý kể từ cho vay với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay và tài trợ của Quỹ chỉ đạt ở mức trung bình, nhiều chỉ tiêu còn ở trong tình trạng yếu và kém.
Từ khóa: Quản lý, vốn, Quỹ, môi trường.

10. Cải cách hành chính nhà nước cấp tỉnh để hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương- Nghiên cứu điển hình tại Bắc Giang/ Bùi Trung Hải// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 217 .- 7/2015 .- Tr. 82-88
Cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam đang được đẩy mạnh hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, kết quả đạt được còn hạn chế. Trong khi đó, mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nước hiện đại ngày càng trở nên bức thiết. Vai trò của địa phương trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế đang được nâng lên. Do đó, cần có giải pháp hiệu quả trong cải cách hành chính nhà nước ở cấp tỉnh để thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
Từ khóa: Hành chính, nhà nước, cấp tỉnh, công khai minh bạch, trách nhiệm, giải trình, tính tiên liệu, sự tham gia.
Trung tâm Thông tin - Thư viện
 
♦ Ý kiến của bạn
Chia sẻ :

Địa chỉ: Số 36 - Đường Dân Lập - Phường Dư Hàng Kênh - Quận Lê Chân - TP Hải Phòng
Điện thoại: 0225 3740577 - 0225 3833802 -- Fax: 0225.3740476 Email: webmaster@hpu.edu.vn