TIN TỨC HPU

  Thứ tư, 10/12/2014 - 07:43:19

Bài trích Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam số 21 năm 2014

Xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam số 21 năm 2014 tại Phòng Đọc tầng 5 nhà G - Trung tâm Thông tin Thư viện - Trường Đại học Dân lập Hải Phòng


 
1. Metagenomics và việc khai thác tiềm năng đa dạng sinh học nguồn gen vi sinh vật của Việt Nam/ Phạm Công Hoạt, Phùng Thu Nguyệt, Trần Công Hùng// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 21/ 2014 .- Tr. 6-9
Metagenomics (nghiên cứu đa hệ gen) đã tạo nên những tiến bộ vượt bậc trong việc nghiên cứu về sinh thái học, tiến hóa và đa dạng vi sinh vật. Đây là định hướng nghiên cứu mới, quan trọng đã trở thành chiến lược trong phát triển kinh tế bền vững, an ninh quốc phòng, bảo vệ sức khỏe và môi trường của nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, metagenomics bước đầu được triển khai để giải các bài toán có tính chất tổng thể, nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học của các hệ vi sinh vật có giá trị.
Từ khóa: metagenomics, gen, vi sinh vật, đa dạng sinh học.

2. Vấn đề bảo hộ chỉ dẫn địa lý của Việt Nam trong hội nhập quốc tế/ Đỗ Thị Minh Thủy// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 21/ 2014 .- Tr. 10-12
Lâu nay, chúng ta bàn nhiều tới chỉ dẫn địa lý trong phạm vi quốc gia và trong thời gian gần đây, chúng ta thường nhắc đến việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý thông qua những vụ việc cụ thể như trường hợp chỉ dẫn địa lý “nước mắm Phú Quốc” được bảo hộ tại Liên minh châu Âu (EU) hay xung quanh vụ việc tranh chấp chỉ dẫn địa lý “cà phê Buôn Mê Thuột”… Một số vấn đề pháp lý về cơ chế và định hướng bảo vệ đối tượng sở hữu trí tuệ (SHTT) đặc thù này một cách hợp lý đang đặt ra. Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có một số điều khoản liên quan đến bảo hộ quyền SHTT, trong đó vấn đề bảo hộ chỉ dẫn địa lý vẫn còn có nhiều ý kiến đa chiều. Với mong muốn đưa các chỉ dẫn địa lý nội địa của Việt Nam vượt qua “rào cản kỹ thuật” vào các nước phát triển và “vươn tầm” quốc tế trong thời gian tới, qua phân tích một số trường hợp liên quan, tác giả đề xuất một vài gợi mở cho Việt Nam trong vấn đề này.
Từ khóa: Bảo hộ, chỉ dẫn, địa lý, Việt Nam.

3. Nghiên cứu bảo quản nguyên liệu thịt bằng các axit hữu cơ/ Trần Thị Mai Phương, Phan Thanh Tâm// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 21/ 2014 .- Tr. 43-46.
An toàn vệ sinh thực phẩm hiện đang là vấn đề được quan tâm ở mọi quốc gia, và ở Việt Nam vấn đề này ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Thịt và các sản phẩm từ thịt là một trong mười thực phẩm có nguy cơ ô nhiễm cao nhất. Trong khi đó, tình trạng giết mổ, vận chuyển, bảo quản thủ công và không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm hiện vẫn còn rất phổ biến ở Việt Nam. Nghiên cứu này cho thấy tác dụng của các axit hữu cơ khi sử dụng hỗn hợp chứa 1,5% axit lactic và 1,5% axit axêtic đến khả năng kháng vi sinh vật trên bề mặt nguyên liệu thịt, giúp kéo dài thời gian bảo quản đến 18 ngày (ở 0-4oC) và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng.
Từ khóa: an toàn, thực phẩm, bảo quản, nguyên liệu, thịt, axit lactic, axit axêtic.

4. Nghiên cứu công nghệ bảo quản thịt đà điểu tươi bằng bao gói hút chân không/ Hoàng Văn Lộc, Phùng Đức Tiến, Nguyễn Qúy Khiêm, Trần Thị Mai Phương// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 21/ 2014 .- Tr. 47-51
Để kéo dài thời gian bảo quản thịt đà điểu tươi có thể sử dụng phương pháp bao gói hút chân không. Bao bì dùng cho đóng gói hút chân không là bao bì PolyAmit dày 0,085 mm, đảm bảo tốt nhất các chỉ tiêu về cảm quan và khả năng kìm hãm sự phát triển vi sinh vật hiếu khí tổng số (VSVHKTS). Phương pháp đóng gói hút chân không có thể giữ được thịt đà điểu tươi trong 10 ngày đối với bảo quản lạnh 0-4oC và 8h đối với bảo quản nhiệt độ thường mà vẫn đảm bảo chất lượng cảm quan, hóa lý, các chỉ tiêu vi sinh vật theo quy định của Bộ y tế và Tiêu chuẩn Việt Nam. Sản phẩm thịt đà điểu bảo quản bằng công nghệ hút chân không sau 10 ngày bảo quản có chất lượng cảm quan, thành phần dinh dưỡng tương đương với thịt tươi ban đầu; pH đạt 6,32; độ rỉ dịch 7,063%; không phản ứng dương tính với H2S và NH3, đảm bảo các chỉ tiêu vi sinh vật theo Quyết định 46/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế.
Từ khóa: thịt, đà điểu, bao bì, đóng gói, hút chân không, bảo quản.

5. Xác định tỷ lệ vỏ hạt đỗ xanh thích hợp trong khẩu phần thức ăn nuôi đà điểu sinh sản/ Nguyễn Khắc Thịnh, Nguyễn Thị Hòa, Nguyễn Hữu Sơn// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 21/ 2014 .- Tr. 52-56
Thí nghiệm được thực hiện tại Trại đà điểu giống Kinh Môn – Hải Dương với mục đích xác định được tỷ lệ vỏ hạt đỗ xanh thích hợp trong khẩu phần thức ăn (KPTĂ) nuôi đà điểu sinh sản nhằm tận dụng nguồn phụ phẩm dồi dào tại địa phương. Thí nghiệm được bố trí theo mô hình ngẫu nhiên hoàn toàn 1 nhân tố là 3 mức vỏ hạt đỗ xanh trong KPTĂ: 15%, 20%, 25% (theo tỷ lệ khối lượng của KPTĂ sử dụng), mỗi mức lặp lại 3 lần. Kết quả cho thấy: trong giai đoạn đẻ trứng, KPTĂ có tỷ lệ vỏ hạt đỗ xanh 20% cho năng suất trứng đạt cao nhất là 40,08 quả/mái, tỷ lệ trứng có phôi đạt 69,41%, tỷ lệ nở/phôi đạt 69.49%, chi phí thức ăn để sản xuất đà điểu giống thấp nhất (395,5 nghìn đồng). Giai đoạn ngưng đẻ, KPTĂ có tỷ lệ vỏ hạt đỗ xanh 25% ảnh hưởng tốt đến quá trình tiêu mỡ giảm béo, đảm bảo thể trạng cơ thể đà điểu không béo, không gầy và khả năng phát dục đồng đều, chuẩn bị cho mùa sinh sản mới. KPTĂ có tỷ lệ vỏ hạt đỗ xanh 25% nuôi đà điểu giai đoạn ngưng đẻ có chi phí thức ăn tinh/con thấp nhất (1,014 triệu đồng).
Từ khóa: vỏ, đỗ xanh, đà điểu, trứng, trung du, miền núi.

6. Nghiên cứu ứng dụng β-Glucan chiếu xạ làm chất tăng trưởng trong chăn nuôi/ Lê Quang Luân, Nguyễn Huỳnh Phương Uyên, Trương Phước Thiên Hoàng// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 21/ 2014 .- Tr. 57-60
Chế phẩm dạng dung dịch 10% β-Glucan chiếu xạ bằng tia gamma từ nguồn Co-60 ở các liều 100-300 kGy đã được bổ sung vào thức ăn nhằm nghiên cứu hiệu ứng tăng trưởng ở gà. Kết quả sau 8 tuần nuôi đã cho thấy khi bổ sung các chế phẩm β-Glucan chiếu xạ vào thức ăn không chỉ có tác dụng thúc đẩy sự tăng trưởng ở gà mà còn giảm hệ số tiêu tốn thức ăn, đồng thời gia tăng chất lượng quầy thịt sau khi giết mổ. Chế phẩm β-Glucan chiếu xạ ở liều 200 kGy với khối lượng phân tử khoảng 25 kDa đã được xác định là có hiệu quả tăng trưởng tốt nhất. So với nghiệm thức đối chứng, khi bổ sung chế phẩm β-Glucan chiếu xạ ở liều 200 kGy đã có tác dụng gia tăng  khoảng 40% trọng lượng bình quân, 5,7% tỷ lệ móc hàm, 9,6% tỷ lệ quầy thịt, 5,6% tỷ lệ đùi, 3% tỷ lệ ức và giảm 35,4% lượng thức ăn tiêu tốn cho mỗi kg tăng trọng. Chế phẩm β-Glucan chiếu xạ có nguồn gốc tự nhiên hứa hẹn là một sản phẩm có tiềm năng ứng dụng trong sản xuất sản phẩm chăn nuôi an toàn, chất lượng cao và mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.
Từ khóa: cắt mạch, chiếu xạ, β-Glucan, tăng trưởng, chăn nuôi, gà.

7. Khả năng sản xuất của giống lợn VCN-MS15/ Phạm Duy Phẩm, Lê Thanh Hải, Hoàng Đức Long…// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 21/ 2014 .- Tr. 61-64
Nghiên cứu được tiến hành trên 41 lợn nái và 18 lợn đực VCN-MS15 ở thế hệ gốc từ tháng 12.2010 đến 12.2013 tại Trạm Hòa Bình (thuộc Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương) nhằm đánh giá khả năng sản xuất của giống lợn này. Giống lợn VCN-MS15 có đặc điểm ngoại hình ngắn, lông da đen, chân trắng, tai to rủ, lưng võng và số vú nhiều (> 18 vú). Kết quả cho thấy, đàn lợn VCN-MS15 có đặc điểm nổi trội về khả năng sinh sản: tuổi động dục lần đầu từ 108 đến 115,7 ngày, khối lượng động dục lần đầu từ 28,7 đến 32,4 kg, tuổi phối giống lần đầu từ 142,1 đến 152,2 ngày và khối lượng phối giống lần đầu từ 36,2 đến 42,8 kg, số con sơ sinh sống trung bình ở thế hệ thứ 3 đạt 13,7 con/ổ, tương ứng với số con cai sữa đạt 12,3 con/ổ. Với kết quả như trên, đàn lợn VCN-MS15 được coi là nguồn gen quý trong việc cải tạo và nâng cao năng suất đàn lợn nái nền Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: VCN-MS15, sinh trưởng, sinh sản, chăn nuôi, lợn.
Trung tâm Thông tin Thư viện
 
 
 
♦ Ý kiến của bạn
Chia sẻ :

Địa chỉ: Số 36 - Đường Dân Lập - Phường Dư Hàng Kênh - Quận Lê Chân - TP Hải Phòng
Điện thoại: 0225 3740577 - 0225 3833802 -- Fax: 0225.3740476 Email: webmaster@hpu.edu.vn