TIN TỨC HPU

  Thứ sáu, 25/07/2014 - 08:23:14

Bài trích Tạp chí Ngân hàng số 13 năm 2014

Xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc Tạp chí Ngân hàng số 13 năm 2014 tại Phòng Đọc tầng 5 nhà G - Trung tâm Thông tin Thư viện - Trường Đại học Dân lập Hải Phòng


1. Sử dụng mô hình Vars cho dự báo lạm phát tại Ngân hàng nhà nước Việt Nam/ Trần Thanh Hoa, Bùi Thị Trang Dung// Tạp chí Ngân hàng .- Số 13/2014 .- Tr. 2-6

Bài viết sẽ đóng góp thêm một nghiên cứu về việc sử dụng mô hình Vars cho dự báo lạm phát, bước đầu được xây dựng và vận hành tại Ngân hàng nhà nước. Đây là một phương pháp dễ thực hiện, không cần dựa trên nền tảng các mô hình lý thuyết kinh tế học, nhưng nó và các biến thể của nó lại được áp dụng khá rộng rãi trên thế giới, thậm chí vẫn được tin dùng ở ngay cả một số quốc gia đã theo đuổi cơ chế lạm phát mục tiêu như Brazil, Iceland, Peru, hay New Zealand (BOE, 2012). Mục đích của bài nghiên cứu này là ngoài việc sử dụng mô hình Vars như một công cụ để dự báo chỉ tiêu lạm phát cho Việt Nam, còn rút ra một số kết luận hữu ích cho công tác phân tích và dự báo lạm phát tại NHNN. Cấu trúc của bài nghiên cứu này gồm 3 phần chính: phần 1 trình bày cấu trúc các mô hình Vars (lựa chọn biến, số liệu, và định dạng mô hình); phần 2 đánh giá khả năng dự báo của các mô hình Vars và rút ra một số nhận xét; phần 3 đưa ra kết quả dự báo cho năm 2014 và một số kết luận về hướng cải tiến các mô hình Vars.
 
Từ khóa: Mô hình Vars, lạm phát, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

2. Giải pháp đổi mới hoạt động đào tạo xây dựng đội ngũ chuyên gia hệ thống Ngân hàng nhà nước trong giai đoạn hiện nay/ Trần Hữu Thắng và nhóm nghiên cứu// Tạp chí Ngân hàng .- Số 13/2014 .- Tr. 11-13

Vấn đề đào tạo, xây dựng đội ngũ chuyên gia được đề cập trong tất cả các cấp lãnh đạo quản lý ở các ngành, các tổ chức kinh tế - xã hội và là vấn đề được đặc biệt quan tâm trong vài năm trở lại đây. Rất nhiều văn bản của Đảng, của Nhà nước, nhiều chương trình nghị sự đã đề cập, nêu định hướng và cụ thể hóa thành những chương trình, những dự án cụ thể để triển khai thực hiện. Kinh phí, thời gian và công sức bỏ ra đã nhiều nhưng kết quả đạt được khi đánh giá lại có những điểm không đồng nhất nhau, thậm chí trái ngược nhau. Đã có chuyên gia hay chưa, “Hình hài chuyên gia” như thế nào, nhiều tổ chức cho rằng vẫn chưa có hoặc chưa rõ nét. Trong khuôn khổ của bài viết, nhóm nghiên cứu muốn đưa ra quan điểm về việc này và mong muốn mọi người cùng trao đổi, đóng góp ý kiến để hướng tới mục tiêu là các tổ chức nói chung và Ngân hàng Nhà nước nói riêng, đào tạo xây dựng được đội ngũ chuyên gia thực sự, đóng góp nhiều vào thành quả hoạt động và mục tiêu phát triển của tổ chức.
 
Từ khóa: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chuyên gia, đào tạo.

3. Hoàn thiện mô hình tổ chức tín dụng là hợp tác xã ở Việt Nam – Bài học từ mô hình ngân hàng hợp tác xã ở Cộng hòa Liên bang Đức/ Trần Quang Khánh// Tạp chí Ngân hàng .- Số 13/2014 .- Tr. 14-16

Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2010 xác định loại hình TCTD là HTX bao gồm Ngân hàng Hợp tác xã (HTX) và các Qũy tín dụng nhân dân. Để làm rõ thêm về mô hình Ngân hàng HTX (là loại hình TCTD mới hình thành ở Việt Nam) là nhân tố quan trọng trong hệ thống TCTD là HTX, bài viết này đề cập khái quát về quá trình hình thành và phát triển hệ thống Ngân hàng HTX ở Cộng hòa Liên bang (CHLB) Đức; qua đó rút ra một số vấn đề góp phần hoàn thiện mô hình hệ thống TCTD là HTX ở Việt Nam.
 
Từ khóa: Ngân hàng Hợp tác xã, tổ chức tín dụng, Cộng hòa Liên bang Đức, Việt Nam.

4. Thanh toán thẻ phát triển nhanh hướng dần đến bền vững ở Việt Nam/ Dương Hồng Phương// Tạp chí Ngân hàng .- Số 13/2014 .- Tr. 17-21

Đến nay, Thẻ ngân hàng ở Việt Nam đã trở thành một trong những phương tiện thanh toán khá phổ biến và rất được ưa chuộng với nhiều tiện ích, được các ngân hàng thương mại chú trọng phát triển, có tốc độ phát triển nhanh đến ngoạn mục luôn ở mức 2 con số: ví dụ chỉ tính riêng cuối tháng 12/2013, số lượng thẻ phát hành đạt 66,2 triệu thẻ (tăng 22,1% so với cuối năm 2012 và tăng gần 60,7% so với cuối năm 2011); trong đó 92,3% là thẻ ghi nợ nội địa. Nội dung bài viết này đề cập đến 4 vấn đề sau: Phát triển nhanh về số lượng thẻ gây lãng phí và kém hiệu quả; Những văn bản pháp lý hiện hành của NHNN điều chỉnh hoạt động thanh toán thẻ ở Việt Nam; Củng cố hoạt động chuyển mạch thẻ qua POS – hướng phát triển bền vững của thanh toán thẻ ở Việt Nam; Hướng tới xây dựng, triển khai áp dụng bộ tiêu chuẩn thẻ chip nội địa – góp phần củng cố tính bền vững của thị trường Thẻ Việt Nam.
 
Từ khóa: Ngân hàng, Việt Nam, Thẻ ngân hàng

5. Vai trò của sở hữu nhà nước tại các ngân hàng thương mại và một số gợi ý chính sách/ Đặng Thị Thu Hằng, Trần Việt Dũng// Tạp chí Ngân hàng .- Số 13/2014 .- Tr. 22-25

Tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) và các tổ chức tài chính là một trong những lĩnh vực chủ đạo và được quan tâm nhất hiện nay. Quyết định số 254/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015” đã được ban hành với định hướng là nâng cao vai trò, vị trí chi phối, dẫn dắt thị trường của các tổ chức tín dụng Việt Nam, đặc biệt là đảm bảo vai trò trụ cột của các Ngân hàng thương mại Nhà nước và Ngân hàng thương mại có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước trong hệ thống các TCTD. Để đảm bảo nâng cao vai trò vị trí của các NHTM mà Nhà nước có cổ phần chi phối – NHTMNN, vấn đề nâng cao hiệu quả vai trò chủ sở hữu của Nhà nước tại các ngân hàng này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tái cấu trúc các NHTM tại Việt Nam. Bài viết này tổng quan lại các cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm xung quanh vấn đề này; qua đó, đưa ra một số gợi ý chính sách tại Việt Nam.
 
Từ khóa: Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, sở hữu nhà nước.

6. Ứng dụng Stress test để đo lường sức chịu đựng rủi ro thị trường của các Ngân hàng thương mại Việt Nam/ Nuyễn Minh Sáng, Cao Thị Ngọc Qúy// Tạp chí Ngân hàng .- Số 13/2014 .- Tr. 26-31

Mô hình stress test được giới thiệu năm 1990, tuy nhiên, đến cuộc khủng hoảng tài chính 2008, mô hình này mới được áp dụng rộng rãi. Cho đến nay, mô hình này được áp dụng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, ở Việt Nam, việc áp dụng mô hình này còn nhiều hạn chế, thậm chí chưa được áp dụng tại nhiều ngân hàng. Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả áp dụng mô hình stress test đồng thời hai cú sốc rủi ro tỷ giá đối với các NHTM Việt Nam.
 
Từ khóa: Ngân hàng thương mại, Việt Nam, rủi ro thị trường, Mô hình Stress test.

7. Hoàn thiện quy định về giao dịch đảm bảo bằng tài khoản ngân hàng/ Bùi Đức Giang, Lê Quốc Khanh// Tạp chí Ngân hàng .- Số 13/2014 .- Tr. 34-37

Các giao dịch đảm bảo bằng một khoản tiền là các giao dịch đảm bảo tối ưu đối với các chủ nợ có bảo đảm, trong đó có các ngân hàng thương mại. Ngày nay, việc sử dụng số dư tài khoản để đảm bảo thực hiện một nghĩa vụ không phải là một ý tưởng thực sự mới mẻ. Tuy nhiên, việc luật hóa loại giao dịch bảo đảm này và việc xác định phạm vi áp dụng của nó không phải là một điều hiển nhiên trong pháp luật Việt Nam. Hệ quả là các ngân hàng còn khá lúng túng trong việc nhận loại tài sản bảo đảm đặc biệt này. Bài viết sẽ phân tích quy định hiện hành và đề xuất một số biện pháp nhằm hoàn thiện các quy định về giao dịch bảo đảm của Bộ luật Dân sự trong lần sửa đổi tới đây.
 
Từ khóa: Pháp luật, quy định, giao dịch, ngân hàng.

8. Bất cập và khuyến nghị hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính tiêu dùng/ Đậu Thị Mai Hương// Tạp chí Ngân hàng .- Số 13/2014 .- Tr. 46-48

Cho vay tiêu dùng là hoạt động cho vay dành cho đối tượng khách hàng là cá nhân vì mục đích phi đầu tư, phục vụ việc mua sắm các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu như ô tô, xe máy, thiết bị gia đình, giáo dục, sức khỏe, du lịch… Dịch vụ cho vay tiêu dùng tại Việt Nam hiện được cung cấp bởi các ngân hàng thương mại và công ty tài chính. Công ty tài chính tiêu dùng là loại hình công ty tài chính chuyên ngành với phạm vi hoạt động chỉ chủ yếu trong lĩnh vực tài chính tiêu dùng (cấp tín dụng cho cá nhân bằng dịch vụ cho vay mua trả góp, phát hành thẻ tín dụng, cho vay bằng tiền). Trong những năm vừa qua, hoạt động cho vay tiêu dùng của các công ty tài chính tiêu dùng ở Việt Nam đã đóng góp vai trò tích cực trong việc đáp ứng nhu cầu vốn tiêu dùng còn hạn chế do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có các bất cập của pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính tiêu dùng. Nội dung bài viết đề cập một số đặc trưng chủ yếu trong hoạt động của công ty tài chính tiêu dùng tại Việt Nam, chỉ ra các bất cập và đề xuất một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính tiêu dùng.
 
Từ khóa: Pháp luật, tổ chức, hoạt động, công ty tài chính tiêu dùng.

9. Ngân hàng truyền thống trước áp lực của ngân hàng “bóng tối”/ Đào Thị Hồ Hương// Tạp chí Ngân hàng .- Số 13/2014 .- Tr. 53-56

Thuật ngữ shadow banking system - SBS hay còn gọi là ngân hàng “bóng tối”, ngân hàng “ngầm”, lần đầu tiên được Paul McCulley, một giám đốc đầu tư kỳ cựu của PIMCO (quỹ đầu tư trái phiếu hàng đầu thế giới) đưa ra vào năm 2007 tại Diễn đàn Kinh tế của Ngân hàng Trung ương Mỹ tổ chức tại Jack Hole Wyoming. McCulley gọi “shadow banking system” là “hệ thống bao gồm tất cả các hoạt động và công cụ đầu tư lợi suất cố định phi ngân hàng sử dụng đòn bẩy”. Bài viết tập trung đề cập đến những nội dung chính sau: Tác động của ngân hàng “bóng tối” đối với nền kinh tế toàn cầu; Sự phát triển mạnh mẽ của SBS bắt nguồn từ đâu; Sự lấn sân của kẻ cơ hội, đến sau; Tương lai của cuộc đua song mã.
 
Từ khóa: Ngân hàng, kinh tế, shadow banking system.
 
Trung tâm Thông tin - Thư viện
♦ Ý kiến của bạn
Chia sẻ :

Địa chỉ: Số 36 - Đường Dân Lập - Phường Dư Hàng Kênh - Quận Lê Chân - TP Hải Phòng
Điện thoại: 0225 3740577 - 0225 3833802 -- Fax: 0225.3740476 Email: webmaster@hpu.edu.vn