TIN TỨC HPU

  Thứ năm, 31/12/2015 - 09:37:08

Bài trích Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam số 9 đến số 11 năm 2015

Trung tâm Thông tin Thư viện trân trọng giới thiệu !
1. Sử dụng Hydrogel để bảo vệ hệ xúc tác Enzyme kim loại sử dụng trong pin nhiên liệu/ Lê Tiến Khoa// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 9A .- 9/2015 .- Tr. 46
Hydrogenase, một loại enzyme kim loại có khả năng xúc tác cho quá trình chuyển hóa hydro trong pin nhiên liệu đang được xem là giải pháp đầy triển vọng trong việc thay thế các loại xúc tác đắt tiền như platinum. Tuy nhiên, hydrogenase dễ bị thụ động hóa khi tiếp xúc với oxy, vì vậy đã cản trở khả năng ứng dụng xúc tác sinh học này vào thực tế. Gần đây, nhóm nghiên cứu của giáo sư Wolfgang Schumann (Trung tâm điện hóa và hóa học phân tích, Đại học Bochum, Đức) đã chế tạo thành công điện cực phủ hydrogenase gắn kết với một lớp hydrogel nhằm bảo vệ enzyme kim loại khỏi sự đầu độc của oxy không khí. Trong tương lai gần, thành công của nghiên cứu này rất có thể sẽ làm đơn giản hóa quá trình chế tạo pin nhiên liệu, từ đó đưa pin nhiên liệu đến gần hơn với cuộc sống.
Từ khóa: Pin nhiên liệu, năng lượng, hydrogel, enzyme kim loại.
2. Nghiên cứu sự thích nghi của cây lúa trong điều kiện mặn/ Nguyễn Bích Hà Vũ, Võ Công Thành// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 9B .- 9/2015 .- Tr. 1
Nghiên cứu sự thích nghi của cây lúa chống chịu mặn nhằm tìm hiểu những biểu hiện cấu trúc tế bào giúp cây mạ thích nghi với điều kiện mặn ở 12,50; 15,63; 18,75 và 21,88 dS/m trong dung dịch dinh dưỡng. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức lô phụ với 2 lần lặp, lô chính gồm 5 nghiệm thức mức độ mặn và lô phụ là 5 giống lúa. Sau 8 ngày thử mặn, tiến hành đo độ mặn của giọt nước hình thành trên lá vào buổi sáng, quan sát lát cắt ngang mẫu lá và rễ, điện di protein ở rễ , bẹ lá và lá cây mạ. Kết qủa cho thấy, nồng độ muối trên chóp lá của giống NQB mùa (chịu mặn) thấp hơn các giống còn lại (71,1 dS/m). Qúa trình tẩm suberin và lignin ở rễ xảy ra nhanh khi trồng trong điều kiện mặn ở các giống. Đặc biệt ở vùng ngoại bì, sự tẩm suberin và lignin của các giống chống chịu mặn xảy ra ở vị trí 10 mm, trong khi ở giống IR28 là 25 mm. Hơn thế nữa, các giống lúa chống chịu mặn còn tăng tích lũy một số protein có trọng lượng phân tử 135,90 và 31,81 kDa ở bẹ lá và rễ; 115,58 kDa ở bẹ lá và 54 kDa ở lá.
Từ khóa: cấu trúc, rễ, lá, chống chịu mặn, sự thích nghi.
3. Ảnh hưởng của liều lượng chiếu xạ tia gamma Co60 đến khả năng tạo biến dị có lợi trong chọn giống đậu tương/ Lê Đức Thảo, Phạm Thị Bảo Chung, Nguyễn Văn Mạnh// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 9B .- 9/2015 .- Tr. 5
Nhằm chọn tạo giống đậu tương mới, khắc phục một số nhược điểm của giống đậu tương DT2008 như thời gian sinh trưởng dài, khả năng chống đổ trung bình (do bộ lá lớn, lá trứng nhọn, cao cây), Viện di truyền Nông nghiệp đã xử lý đột biến bằng phương pháp chiếu xạ tia gamma (Co60) trên hạt khô giống DT2008 ở các liều lượng 100, 150, 200, 250, 300, 350 Gy. Kết quả cho thấy, liều lượng xử lý tạo ra nhiều đột biến có lợi là 150, 200, 250 Gy và đã thu hút được các cá thể mang đột biến có lợi cho chọn tạo giống đậu tương mới ở thế hệ M6 như chiều cao cây thấp hơn từ 8-13 cm, năng suất cao hơn, chín sớm hơn từ 5-7 ngày so với giống DT2008, đặc biệt đã chọn được các dòng có vỏ hạt màu đen.
Từ khóa: Tia gamma Co60, đậu tương, nông nghiệp.
4. Những nguyên nhân gây suy thoái và rút ngắn chu kỳ kinh doanh của các vườn cà phê ở Tây Nguyên/ Nguyễn Văn Vấn, Trần Duy Qúy, Lê Đức Khánh…// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 9B .- 9/2015 .- Tr. 10
Sản xuất cà phê ở các tỉnh Tây Nguyên chiếm gần 90% diện tích và sản lượng của Việt Nam. Vấn đề đang gây bức xúc hiện nay là khoảng 20% diện tích cà phê đã già cỗi, suy thoái, không mang lại hiệu quả kinh tế, và còn rất nhiều diện tích khác cũng đang có nguy cơ dẫn tới hiện tượng này. Hơn nữa, hiện tượng suy thoái, già cỗi xảy ra với cả các vườn cà phê còn ít tuổi. Những nghiên cứu được thực hiện đã chỉ ra một số nhóm nguyên nhân chính gây ra hiện tượng trên. Trong đó, nguyên nhân thuộc về giai đoạn mới trồng chỉ để rút kinh nghiệm cho phát triển diện tích cà phê mới, gồm: phát triển cà phê không theo quy hoạch; giống và chất lượng cây giống cà phê và trồng cây che bóng. Các nguyên nhân còn lại vừa là nguyên nhân chủ quan và khách quan nhưng có thể chủ động quản lý được, bao gồm: đất và dinh dưỡng đất trồng cà phê; thành phần dịch hại và sự tích lũy dịch hại trong vườn cà phê; chăm sóc cà phê; sự khai thác một cách quá mức. Việc nghiên cứu, phân tích làm rõ những nguyên nhân trên giúp cho người trồng cà phê có thể chủ động quản lý theo hướng tích cực, góp phần cải thiện năng suất, chất lượng và kéo dài thời kỳ kinh doanh cho các vườn cà phê ở Tây Nguyên.
Từ khóa: dịch hại, già cỗi, suy tàn, khai thác, hiệu quả, kinh tế, nông nghiệp, cà phê, Tây Nguyên.
5. Ảnh hưởng của môi trường nuôi trứng, nuôi phôi lên sự hình thành và phát triển phôi bò sữa cao sản/ Nguyễn Thị Hương, Quản Xuân Hữu, Nguyễn Khánh Vân…// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 9B .- 9/2015 .- Tr. 17
Nội dung bài viết đánh giá ảnh hưởng của môi trường nuôi thành thục và môi trường nuôi phôi lên hiệu quả tạo phôi bò in vitro. Nguồn tế bào trứng sử dụng cho các thí nghiệm thu từ bò sống bằng phương pháp siêu âm; trong đó số tế bào trứng loại A, B đạt 7,2 tế bào trứng/ buồng trứng. Tỷ lệ tế bào trứng thành thục, tế bào trứng phân chia, phôi dâu, phôi nang và phôi nang thoát màng của tế bào trứng nuôi thành thục in vitro trong môi trường TCM 199+10% FCS+5 µg/ml FSH tương ứng là 89,31; 90,14; 47,65; 23,44 và 3,9%, cao hơn so với tế bào trứng nuôi trong các môi trường khác.
Từ khóa: bò cao sản, phôi, trứng thành thục, chăn nuôi.
6. Xác định giá trị năng lượng trao đổi của bột là keo giậu trên gà thịt giống Lương Phượng/ Từ Quang Hiển, Từ Quang Trung, Trần Việt Hà// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 9B .- 9/2015 .- Tr. 23
Thí nghiệm xác định năng lượng trao đổi (NLTĐ) của bột lá keo giậu (Leucaena leucocephala) được thực hiện trên thịt gà giống Lương Phượng ở giai đoạn 43-49 ngày tuổi. NLTĐ của bột lá keo giậu (BLKG) được xác định theo phương pháp có hiệu chỉnh theo lượng nitơ tích lũy trong cơ thể gà. Thí nghiệm được thực hiện trên tổng số 60 con gà, được chia thành 2 lô, lô 1 ăn khẩu phần cơ sở (KPCS) và lô 2 ăn khẩu phần thí nghiệm (KPTN), mỗi lô 30 con được nuôi trong 5 lồng (6 con x 5 lần lặp lại). KPCS không chứa BLKG, KPTN được phối hợp từ 80% KPCS+20%BLKG, cả hai khẩu phần được bổ sung 1,5% khoáng không tan trong axit chlohydric. Trên cơ sở xác định năng lượng thô và phân tích protein, khoáng không tan của 2 khẩu phần và chất thải của 2 lô gà, tính được NLTĐ của 2 khẩu phần và của BLKG. Kết quả cho thấy: NLTĐ có hiệu chỉnh theo lượng nitơ tích lũy trong cơ thể gà của BLKG là 2377,1 kcal/kg vật chất khô (VCK) và 2151,9 kcal/kg bột lá nguyên trạng (90,53% VCK).
Từ khóa: bột lá keo giậu, năng lượng, nitơ tích lũy.
7. Tập tính ăn 3 loại lá rừng ngập mặn, hàm lượng dinh dưỡng trong lá và phân Ba khía tại Cà Mau/ Võ Ngươn Thảo, Nguyễn Vũ Minh, Trương Thị Nga// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 9B .- 9/2015 .- Tr. 27
Nghiên cứu tập tính ăn lá cây rừng ngập mặn (RNM) của Ba khía (Sesarma sp.) tại xã Viên An, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau cho thấy: đối với lá đước, Ba khía ăn lá vàng nhiều hơn lá xanh. Kết quả thí nghiệm về sự lựa chọn 3 loại lá cho thấy, đối với lá vàng thì Ba khía tích ăn lá mắm xanh nhiều nhất và không có sự lựa chọn giữa lá vẹt xanh với lá đước xanh. Hàm lượng dinh dưỡng (C, N, P) trong lá vàng đều thấp hơn trong lá xanh. Khi qua hệ thống tiêu hóa của Ba khía, tỷ lệ C/N đã giảm đi đáng kể. Đối với lá vẹt vàng, tỷ lệ C/N ở mẫu phân giảm 3,96 lần so với mẫu lá (từ 94,49 còn 23,88), tương tự ở lá mắm vàng giảm 3,43 lần (từ 68,33 còn 19,94); còn đối với lá xanh (từ 35,04 xuống 23,02). Hàm lượng dinh dưỡng khi qua hệ thống tiêu hóa của Ba khía tăng lên đáng kể đã chứng minh Ba khía có vai trò quan trọng trong chu trình chuyển hóa dinh dưỡng của RNM và là một trong những mắt xích quan trọng trong mạng lưới thức ăn của RNM.
Từ khóa: ba khía, chu trình, dinh dưỡng, lá rừng, RNM.
1. Kiến trúc vi mạch cho nhận dạng tiếng nói tiếng Việt thiết kế theo quy trình ASIC, trên nền công nghệ 130 nm TSMC/ Hoàng Trang, Phạm Đăng Lâm, Trần Văn Hoàng// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 10 .- 10/2015 .- Tr. 1
Nhận dạng tiếng nói đã được nghiên cứu từ hơn 60 năm qua. Những nỗ lực đầu tiên được thực hiện từ những năm 50 đến đầu những năm 70 của thế kỷ trước, hệ thống nhận dạng tiếng nói được thiết kế để nhận dạng phát âm rời rạc trong môi trường nhiễu thấp, chủ yếu là các hệ thống với bộ từ vựng nhỏ (10-100 từ), trong trường hợp người nói cũng là người huấn luyện. Ngày nay, các hệ thống nhận dạng với số từ vựng lớn được xây dựng trên nền tảng hệ thống máy tính với tốc độ xử lý cao. Khi mật độ tích hợp vi mạch tăng, việc tiếp cận ứng dụng nhận dạng trên phần cứng hay các thiết bị cầm tay trở nên khả thi. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả trình bày một kiến trúc vi mạch được thiết kế theo quy trình ASIC, trên nền công nghệ 130 nm TSMC, ứng dụng trong nhận dạng giọng nói tiếng Việt, để đáp ứng yêu cầu khắt khe về hiệu năng nhận dạng và tính thời gian thực trong các ứng dụng thực tế.
Từ khóa: dãy cổng lập trình được (FDGA), hàm phân bố xác suất Gauss, hệ thống nhận dạng giọng nói tự động (ASR), mô hình Markov ẩn (HMM), trích đặc trưng thang tần số mel (MFCC)
2. Một cấu trúc mới của bộ khuếch đại VGA công nghệ CMOS/ Trần Đình Lâm, Lê Kỳ Biên, Nguyễn Mạnh Cường// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 10 .- 10/2015 .- Tr. 8
Nghiên cứu đề xuất một cấu trúc cho bộ khuếch đại có hệ số khuếch đại có thể biến đổi (Variable gain amplifiers - VGA) sử dụng công nghệ CMOS 0,35 µm. Nhằm tăng tính chống nhiễu và tính tuyến tính, bộ VGA được thiết kế dựa trên cấu hình bộ khuếch đại vi sai (KĐVS). Hệ số khuếch đại được thay đổi theo hàm mũ giả dựa trên biến đổi nguồn dòng cung cấp cho một cặp vi sai tải mắc theo kiểu diode-connected. Các kết quả mô phỏng cho thấy, hệ số khuếch đại có thể thay đổi liên tục và tuyến tính từ 8 dB đến 21 dB khi điện áp điều khiển thay đổi từ 1,4 V đến 3,8 V, băng thông của bộ VGA đề xuất là lớn hơn 250 MHz.
Từ khóa: bộ khuếch đại có hệ số khuếch đại có thể biến đổi (VGA), bộ  KĐVS, công nghệ CMOS, hệ số khuếch đại theo hàm mũ
3. Siêu rắn: trạng thái mới của vật chất/ Đặng Đình Long, Phạm Thanh Đại// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 10 .- 10/2015 .- Tr. 14
Siêu rắn là một khái niệm để chỉ một trạng thái dị thường của vật chất được đưa ra từ hơn nửa thế kỷ trước nhưng không có bằng chứng thực nghiệm cho thấy có sự tồn tại của trạng thái này. Mãi đến năm 2004, nhóm của Kim và Chan tại Đại học Penn State (Hoa Kỳ) mới công bố tìm thấy trạng thái này trong hệ Helium-4 nhưng cho đến nay sự tồn tại của trạng thái này vẫn còn là một đề tài tranh luận sôi nổi với nhiều ý kiến trái chiều. Bài báo này đưa ra các khái niệm cơ bản có liên quan đến trạng thái siêu rắn, các đặc trưng của nó cùng các điều kiện quan trọng để có thể quan sát thực nghiệm giúp cho việc nhận thức về trạng thái dị thường này được sáng tỏ hơn. Ngoài ra, bài báo cũng chỉ ra một hệ triết lý khả thi có thể quan sát được pha siêu rắn, đó là mạng quang học. Cuối cùng, bài báo đưa ra các thảo luận về các trạng thái dị thường khác của vật chất kèm theo các kiến nghị.
Từ khóa: helium-4, hệ tương quan mạnh, mạng quang học, pha dị thường, pha siêu chảy, pha siêu rắn.
4. Mô hình hóa phổ hấp thụ của chấm lượng tử/ Nguyễn Thế Lâm// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 10 .- 10/2015 .- Tr. 23
Bài báo cho thấy phổ hấp thụ của các chấm lượng tử hình hộp và hình cầu được xác định bằng phương pháp mô hình hóa. Thông qua mô hình tính toán, nhóm nghiên cứu đã tìm được các mức năng lượng được lượng tử hóa của các chấm lượng tử nêu trên. Đây là cơ sở xác định phổ hấp thụ của các chấm lượng tử (có thể áp dụng cho các chấm lượng tử bán dẫn). Xác suất tìm thấy hạt trên các mức năng lượng của hạt ở nhiệt độ cao cũng đã được thảo luận chi tiết. Từ đó xác định được sự phụ thuộc của phổ hấp thụ của các chấm lượng tử vào nhiệt độ.
Từ khóa: chấm lượng tử, hình dạng, kích thước, mô hình hóa, phổ hấp thụ.
5. Cơ chế hình thành và các giai đoạn phát triển Biển Đông/ Chu Văn Ngợi, Trần Nghi, Trần Hữu Thân…// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 10 .- 10/2015 .- Tr. 27
Đã có nhiều mô hình về cơ chế hình thành và phát triển Biển Đông của các tác giả trong nước và nước ngoài. Các mô hình này hết sức đa dạng và phong phú, song có nét chung và xem xét mở Biển Đông được gây bởi một nguồn lực duy nhất. Trên cơ sở phân tích các sự kiện kiến tạo, các mô hình mở Biển Đông, minh giải các băng địa chấn, phân tích các cấu tạo phá hủy, phân tích các tổ hợp thạch kiến tạo, bài viết đưa ra mô hình mở Biển Đông dựa trên sự kết hợp 3 nguồn lực: nguồn lực gây bởi đụng độ mảng dẫn đến chuyển động thúc trồi, nguồn lực gây bởi hoạt động hút chìm và nguồn lực sâu manti. Vai trò các nguồn lực này không như nhau và được đánh giá theo 3 giai đoạn phát triển Biển Đông: giai đoạn trước tách giãn (trước 32 triệu năm), khu vực Biển Đông bị chi phối bởi các nguồn lực: hoạt động hút chìm, nguồn lực sâu manti và đụng độ mảng; giai đoạn tách giãn (32 triệu năm đến 17 triệu năm): nguồn lực sâu manti đóng vai trò chủ đạo, còn trượt trái của đứt gãy sâu Sông Hồng đóng vai trò cú hích khởi đầu của quá trình tách giãn; và giai đoạn sau tách giãn (từ 17 triệu năm đến nay) với hai thời kỳ đặc trưng: thời kỳ sụt lún bồn (từ Miocen giữa đến Miocen muộn) và thời kỳ sụt lún khu vực (N2-Q) bị chi phối bởi nguồn lực sâu manti, ngoài ra ở thời kỳ sụt lún khu vực còn chịu ảnh hưởng của đới hút chìm Philippin và dịch trượt phải của đứt gãy sâu Sông Hồng. Thời kỳ này đóng vai trò hình thành nên diện mạo Biển Đông ngày nay.
Từ khóa: cơ chế, mô hình, tách giãn, Biển Đông.
6. Các kết quả xây dựng mô hình địa hình động lực trung bình cục bộ sát nhất với mặt biển trung bình trên lãnh hải Việt Nam/ Hà Minh Hòa// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 10 .- 10/2015 .- Tr. 33
Bài báo trình bày các kết quả nghiên cứu của đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu đánh giá các mặt chuẩn mực nước biển (mặt “0” độ sâu, trung bình và cao nhất) theo các phương pháp trắc địa, hải văn và kiến tạo hiện đại phục vụ xây dựng các công trình và quy hoạch đới bờ Việt Nam trong xu thế biến đổi khí hậu” (mã số KC09.19/11-15) liên quan đến việc xây dựng mô hình địa hình động lực trung bình cục bộ (local Mean Dynamic Topography of Vietnam - MDTVN) phù hợp nhất với mặt biển trung bình trên lãnh hải Việt Nam. Mô hình MDTVN sẽ được sử dụng làm nền thông tin địa lý trên Biển Đông phục vụ việc thành lập các bản đồ chuyên đề biển khác nhau và công tác đo đạc – thành lập bản đồ địa hình đáy biển.
Từ khóa: GPS, mặt biển trung bình, trạm nghiệm triều, mô hình địa hình.
7. Đặc điểm địa hình, cấu trúc địa chất và diễn biến đường bờ đới bờ biển Tây Cà Mau/ Trần Thị Thu Hiền, Đặng Hòa Vĩnh// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 10 .- 10/2015 .- Tr. 40
Một trong những thành tích mà tỉnh Cà Mau đang phải đối mặt là tình trạng xói lở bờ biển. Bình quân mỗi năm đường bờ biển ở Cà Mau bị xói lở khoảng 5 km trên chiều dài 254 km. Như vậy, mỗi năm tỉnh Cà Mau bị mất khoảng 927 ha đất do sạt lở. Trong đó tình trạng xói lở khu vực bờ biển Tây là rất đáng lo ngại. Các kết quả phân tích cho thấy đường bờ biển Tây tỉnh Cà Mau có xu hướng xói lở là chính, khu vực xói lở mạnh nhất là bờ phải vàm sông Ông Đốc, tiếp đến là cửa Hương Mai. Khu vực bồi chủ yếu nằm ở vùng Mũi Cà Mau. Nhìn chung, hiện tượng xói lở bờ biển, các cửa sông xảy ra trên hầu hết địa bàn tỉnh Cà Mau vời nhiều nguyên nhân khác nhau như: đặc điểm địa hình đới bờ, cấu trúc địa chất vùng bờ biển, sóng, gió, thủy triều, dòng chảy sông – biển và con người… đã và đang là mối đe dọa lớn tới ổn định dân sinh, kinh tế, xã hội của tỉnh. Bài viết giới thiệu kết quả khảo sát thực trạng thay đổi đường bờ, địa hình và cấu trúc địa chất đới bờ biển Tây Cà Mau nhằm góp phần đánh giá các nguyên nhân gây xói lở bờ biển, từ đó đưa ra các giải pháp để hạn chế tác động xấu.
Từ khóa: bồi lắng, bờ biển Tây, cấu trúc địa chất, xói lở, địa hình.
8. Nguy hiểm nứt sụt đất, trượt lở đất và động đất ở khu vực thủy điện Khe Bố - Bản Vẽ/ Cao Đình Triều, Đặng Thanh Hải, Nguyễn Hồng Phương…// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 10 .- 10/2015 .- Tr. 46
Bài viết đánh giá nguy hiểm nứt sụt đất, trượt lở đất và động đất khu vực công trình thủy điện Khe Bố - Bản Vẽ, tỉnh Nghệ An.       
Từ khóa: động đất, động đất kích thích, nứt sụt đất, thủy điện Bản Vẽ, thủy điện Khe Bố, trượt lở đất.
9. Ghi nhận mới về đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật tại vùng nước ven các đảo Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ và Thổ Chu/ Trần Đình Lân, Nguyễn Thị Minh Huyền, Nguyễn Thị Thu…// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 10 .- 10/2015 .- Tr. 54
Qua điều tra, khảo sát về sinh thái và môi trường ở các vùng biển xung quanh các đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Cồn Cỏ (Quảng Trị) và Thổ Chu (Kiên Giang) giai đoạn 2013-2014 trong khuôn khổ đề tài KC09.08/11-15, một số phát hiện mới đã được ghi nhận ở các vùng biển quanh các đảo về đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật cũng như một số hoạt động làm suy giảm nguồn lợi và suy thoái hệ sinh thái. Tại vùng biển quanh đảo Bạch Long Vĩ, đã bổ sung mới 24 loài san hô cho quần xã san hô cứng của đảo Bạch Long Vĩ và loài sá sùng Sipunculus nudus được ghi nhận bổ sung vào danh mục các nguồn lợi của đảo. Bổ sung mới 15 loài san hô cứng và 11 loài san hô mềm trước đây chưa được ghi nhận ở vùng biển Cồn Cỏ; loài trai tai tượng Tridacna crocea lần đầu tiên được phát hiện phân bố ở vùng biển quanh đảo này; 8  loài san hô mềm có tiềm năng về hoạt chất sinh học cũng được ghi nhận ở vùng đảo Cồn Cỏ. Ở vùng biển quần đảo Thổ Chu và Tây Nam, bổ sung mới 17 loài san hô và phát hiện bổ sung 01 loài hải sâm thuộc giống Actinopyga có giá trị kinh tế cao chưa được ghi nhận trước đây và cũng là đối tượng đang bị khai thác bằng các công cụ có thể hủy hoại các hệ sinh thái vùng biển trong vùng.
Từ khóa: Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ, đa dạng sinh vật, nguồn lợi, phát hiện mới, Thổ Chu
10. Xác định biến động mực nước hạ du sông Hồng dưới tác động của hệ thống các công trình thủy điện thượng du/ Vũ Thị Thu Lan, Hoàng Thanh Sơn, Lương Hữu Dũng// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 10 .- 10/2015 .- Tr. 59
Là lưu vực lớn thứ 2 trên lãnh thổ Việt Nam nhưng hệ thống sông Hồng có tiềm năng năng lượng đứng đầu cả nước. Số công trình thủy điện lớn được xây dựng trên lưu vực sông Hồng chiếm 25% của toàn quốc, tổng công suất lắp máy chiếm trên 46% . Trong quá trình vận hành, các hồ chứa tác động mạnh mẽ đến chế độ dòng chảy, đặc biệt vào mùa kiệt đã gây ra những khó khăn cho vùng hạ du. Để có cơ sở khoa học đánh giá tác động của việc điều tiết các hồ chứa lớn ở thượng du đến chế độ dòng chảy và khả năng lấy nước ở vùng hạ du sông Hồng trong mùa kiệt, các tác giả ứng dụng bộ mô hình MIKE DHI mô phỏng dòng chảy và sự vận hành các hồ chứa trong thời kỳ 2000-2012. Kết quả cho thấy, với điều kiện nguồn nước và hệ thống hồ chứa như hiện nay có thể đủ đáp ứng các nhu cầu hiện tại ở hạ du sông Hồng trong mùa kiệt. Vì vậy, rất cần có một quy trình vận hành liên hồ chứa hoàn chỉnh cho hệ thống chứa trên lưu vực sông Hồng.
Từ khóa: biến động mực nước, lưu vực sông Hồng, mô hình Mike, vận hành hồ chứa.
1. Nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn gốc đá, cấp phối cốt liệu và loại nhựa đến khả năng kháng hằn lún vệt bánh xe của bê tông nhựa/ Bùi Ngọc Hưng, Vũ Đức Chính, Trần Ngọc Huy// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 11 .- 11/2015 .- Tr. 1
Ngày 26/3/2014, Bộ Giao thông vận tải đã ban hành quyết định số 858/QĐ-BGTVT (Quyết định 858) nhằm tăng cường tính bền vững cho kết cấu áo đường mềm cấp cao, đã phần nào hạn chế được hư hỏng hằn lún vệt bánh xe (HLVBX) tại một số dự án xây dựng đường bộ hiện nay. Để có những đánh giá mang tính định lượng các yếu tố có thể dẫn đến sự xuất hiện HLVBX trong mặt đường bê tông nhựa (BTN), nghiên cứu đã tập trung phân tích, thực hiện các thí nghiệm trong phòng, đánh giá tính chất của đá gốc, thành phần cấp phối cốt liệu, loại nhựa đường. Từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm và nghiên cứu tổng quan kết quả nghiên cứu HLVBX trên thế giới, nhóm nghiên cứu đề xuất sử dụng đường cong hình chữ S đối với bê tông nhựa chặt (BTNC) thô và kiến nghị giới hạn thành phần hạt của BTNC 12,5 và BTNC 19 nằm trong đường giao giữa đường cấp phối quy định theo TCVN 8819:2011 và Quyết định 858. Việc lựa chọn cốt liệu, cấp phối điển hình, thiết kế thực nghiệm và một số đề xuất là những nội dung chính được trình bày trong bài báo này.
Từ khóa: cấp phối cốt liệu, hằn lún vệt bánh xe, loại nhựa, nguồn gốc đá, thiết kế thực nghiệm.
2. Nghiên cứu diễn biến lan truyền thấm trong đất của kỹ thuật tưới nhỏ giọt cho cây nho lấy lá trên vùng khan hiếm nước/ Trần Thái Hùng, Võ Khắc Trí, Lê Sâm// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 11 .- 11/2015 .- Tr. 8
Kỹ thuật tưới nhỏ giọt là giải pháp giúp tiết kiệm nước hiệu quả cho cây trồng vùng khan hiếm nước. Nước được cung cấp trực tiếp, liên tục và đều đặn trên mặt đất thông qua các vói tưới nhỏ giọt và thấm xuống tầng đất canh tác để đảm bảo cho cấy trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Trong quá trình thực nghiệm nghiên cứu động thái ẩm của đất trong kỹ thuật tưới nhỏ giọt để xác định chế độ tưới hợp lý cho cây nho lấy lá trên vùng khan hiếm nước, các tác giả đã thiết lập thí nghiệm và quan trắc diễn biến lan truyền thấm trong đất. Từ kết quả đo đạc và tính toán đã đề xuất tương quan giữa các đại lượng: độ sâu thấm, bán kính trung bình của vùng đất ướt theo phương ngang, lượng nước, thời gian tưới, tốc độ lan truyền thấm đứng, và tốc độ lan truyền thấm ngang của kỹ thuật tưới nhỏ giọt. Biểu đồ biểu thị quan hệ tương quan giữa các đại lượng có hệ số tương quan khá cao, phù hợp cho nghiên cứu động thái ẩm của đất để xác định chế độ tưới hợp lý cho cây nho lấy lá nói riêng và cây trồng cạn nói chung trên vùng khan hiếm nước khu vực Nam Trung Bộ.
Từ khóa: chu kỳ mới, diễn biến thấm, tưới nhỏ giọt, nông nghiệp, trồng trọt.
3. Những diễn biến trong kiến trúc nhà ở dân tộc Thái (tỉnh Yên Bái), từ truyền thống đến hiện đại/ Phạm Hùng Cường// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 11 .- 11/2015 .- Tr. 13
Nhà ở truyền thống của người Thái là một di sản văn hóa kiến trúc quý giá của Việt Nam. Thời gian gần đây, do sự thay đổi của đời sống, tập quán sinh hoạt, sản xuất và tác động đo thị hóa, ngôi nhà truyền thống đã có nhiều biến đổi. Những nghiên cứu tại tỉnh Yên Bái đã cho thấy sự biến đổi của ngôi nhà sàn dân tộc Thái truyền thống đang diễn ra khá phổ biến, từ các làng bản truyền thống đến khu vực ven đô và nội đô. Những biến đổi chủ yếu là thay đổi sử dụng vật liệu từ gỗ, tre sang bê tông, gạch, sử dụng khung nhà bê tông, mái lợp tôn… cùng với các xu hướng sử dụng tầng trệt, tách bếp khỏi nhà, nâng cao sàn, bỏ 1 thang, thay đổi cách bố trí nội thất trong nhà… Những thay đổi này khá sâu sắc và rất cần được định hướng để kiến trúc nhà có sự biến đổi phù hợp và vẫn kế thừa được những giá trị quý báu của ngôi nhà sàn Thái truyền thống.
Từ khóa: hiện đại, kiến trúc, nhà ở dân tộc Thái, nhà sàn, truyền thống.
4. Điều khiển Exoskeleton dùng sensor EMG/ Đào Văn Hiệp, Đào Trung Kiên// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 11 .- 11/2015 .- Tr. 19
Bộ xương ngoài (Exo) là một loại robot sinh học đang được ứng dụng rộng rãi nhằm nâng cao năng lực cho người mang, hoặc hỗ trợ người thiểu năng đi lại và luyện tập phục hồi chức năng. Một trong những vấn đề chính mà các nhà phát triển Exo phải đối diện là dự đoán các tham số vận động, như mô men, chuyển vị, vận tốc góc khớp để cung cấp cho bộ điều khiển. Tín hiệu điện cơ đồ thu được từ cơ người mở ra triển vọng giải quyết vấn đề này. Bài báo giới thiệu một hệ thống dùng sensor để dự đoán mô men khớp cần thiết trên cơ sở 2 tín hiệu EMG và 1 tín hiệu chuyển vị góc khớp. Các tín hiệu EMG được đo từ 2 nhóm cơ: tứ đầu đùi và khoeo chân. Hệ thống được tổng hợp từ một hệ thu nhận dữ liệu thương mại và một hệ suy luận nơ ron mờ do các tác giả xây dựng. Tín hiệu ra của ANFIS được dùng để điều khiển chuyển động khớp gối. Kết quả thử nghiệm cho thấy, năng lực vận động của người mang Exo với EMG được cải thiện đáng kể.
Từ khóa: bộ xương ngoài, hệ suy luận nơ ron mờ, sensor, robot sinh học, điện cơ đồ.
5. Nghiên cứu hoàn thiện quy trình chế tạo modul và giải pháp nâng cao hiệu quả hệ thống điện mặt trời Si/ Dương Ngọc Huyền, Nguyễn Thùy Linh, Nguyễn Trọng Tùng… // Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 11 .- 11/2015 .- Tr. 26
Chế độ gia nhiệt ở nhiệt độ cao có thể rút ngắn được thời gian lưu hóa keo ethylene vinyl acetate (EVA), mở ra khả năng chế tạo hiệu quả và giảm giá thành modul pin mặt trời Si dưới 1,0 USD/Wp. Gía thành điện năng thấp nhất trong trường hợp hệ pin mặt trời nối lưới có thể dưới 0,15 USD/kWh ở điều kiện chiếu sáng trung bình, do đó có thể cạnh tranh được với điện lưới. Đối với hệ điện mặt trời độc lập, hiệu suất chuyển đổi phụ thuộc vào bộ phận tích trữ năng lượng. Kết nối hợp lý quá trình chuyển đổi trung gian theo chế dộ phụ tải riêng biệt đã nâng cao hiệu suất, đưa giá thành điện năng của hệ điện mặt trời độc lập nhỏ tiếp cận với giá thành điện mặt trời nối lưới.
Từ khóa: EVA, hệ thống điện mặt trời, modul pin mặt trời, năng lượng
6. Nghiên cứu sản xuất bả dạng gel diệt gián Mỹ/ Trịnh Văn Hạnh, Nguyễn Thúy Hiền, Đỗ Tiến Mạnh… // Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 11 .- 11/2015 .- Tr. 31
Nguyên liệu sử dụng làm bả gel diệt gián Mỹ trong nghiên cứu này gồm hỗn hợp chất nền (tinh bột biến tính + mật ong + phụ gia), gelatin và hoạt chất fipronil. Tỷ lệ thành phần các chất trong bả gel gồm: 99,9% công thức chất nền đã tạo gel và 0,1% fipronil. Bả gel nghiên cứu đạt hiệu quả diệt gián Mỹ 100% trong điều kiện phòng thí nghiệm sau 30 giờ. Tỷ lệ gián Mỹ suy giảm đạt 90,5% sau 4 tuần xử lý trong điều kiện hiện trường. Sau 3 tháng bảo quản trong điều kiện thường (tính từ ngày sản xuất), bả gel không bị hỏng và vẫn giữ được hiệu lực diệt gián Mỹ đạt 84,4%.
Từ khóa: bả gel diệt gián, gián Mỹ.
7. Nghiên cứu ảnh hưởng của titan đioxit và benzophenon lên quá trình phân hủy quang hóa của polyethylen/ Nguyễn Thị Kim Ngân, Nguyễn Thị Thương, Nguyễn Đăng Mão…// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 11 .- 11/2015 .- Tr. 35
Nghiên cứu này khảo sát sự tác động của hỗn hợp tiatn ddioxxit (TiO2) và benzophenon (BP) lên sự phân hủy màng polyethylen tỷ trọng thấp (LDPE) trong môi trường UV nhân tạo và dưới ánh sáng mặt trời. LDPE được phối trộn với hỗn hợp của polyethylen-co-vinyl acetat (EVA) và các chất khơi mào quang hóa bằng phương pháp trộn nóng chảy. Hình thái cấu trúc và tính chất cơ học của màng LDPE trước và sau khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời trong 3 tháng được xác định thông qua kính hiển vi điện tử quét (SEM), quang phổ hồng ngoại (FTIR) và kiểm tra tính chất cơ lý. Kết quả cho thấy, tỷ lệ tối ưu của TiO2 và BP là 1/3 (wt%) được xác định thông qua chỉ số cacbonyl (Cl) của màng trong môi trường UV nhân tạo ở 72 giờ. Màng LDPE có chứa 4,5 phr EVA và 0,5 phr các chất quang hóa TiO2/BP (1/3) bị phân hủy nhanh nhất dưới ánh sáng mặt trời. CI của màng có chứa các chất phụ gia tăng dần theo thời gian và cao hơn đáng kể so với màng LDPE ban đầu. Ngoài ra, độ kết tính tăng và nhiệt độ phân hủy giảm được thể hiện lần lượt thông qua dữ liệu DSC và phân tích TGA khẳng định rằng, TiO2 và BP có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình phân hủy màng LDPE.
Từ khóa: BP, chỉ số cacbonyl, phân hủy quang hóa, polyethylen, titan đioxit
8. Đánh giá phóng xạ tự nhiên và liều chiếu ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương/ Trần Quốc Dũng// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 11 .- 11/2015 .- Tr. 41
Bài báo trình bày các kết quả nghiên cứu về phóng xạ tự nhiên tại tỉnh Bình Dương, bao gồm việc phân tích, đánh giá hiện trạng nền phông phóng xạ trên cơ sở các kết quả có được qua xạ trình đường bộ với 2504 điểm; phân tích hoạt độ của các nhân phóng xạ trong 247 mẫu đất được thu thập. Kết quả cho thấy, trong 7 khu vực khảo sát thì Dĩ An là khu vực có giá trị suất liều trung bình cao nhất là 1,672 mSv/ năm; Phú Giáo và Dầu Tiếng là khu vực có suất liều trung bình thấp nhất, lần lượt là 1,002 mSv/năm và 1,071 mSv/năm. Giá trị trung bình là 1,376 mSv/năm và dao động trong khoảng 0,148-3,049 mSv/năm.
Từ khóa: các nhân phóng xạ, liều chiếu ngoài, phân tích gamma, phóng xạ tự nhiên
9. Nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật tách pha nhằm hoàn thiện quy trình tách dầu dừa tinh khiết bằng công nghệ không gia nhiệt/ Nguyễn Phương, Phạm Hương Sơn, Hoàng Văn Tuấn…// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 11 .- 11/2015 .- Tr. 47
Trong nghiên cứu này, sữa dừa thu được sau khi ép cùi dừa tươi từ quả dừa sẽ được tách pha dầu trên thiết bị ly tâm 3 pha. Ảnh hưởng của các thông số gồm độ hòa loãng của dịch sữa, nhiệt độ dịch sữa trước khi ly tâm, tốc độ vòng quay ly tâm đã được xem xét đến. Kết quả cho thấy, các thông số kỹ thuật của quá trình tách pha nêu trên có tác động trực tiếp đến tỷ lệ thu hồi dầu, đặc biệt là hàm ẩm của dầu. Theo đó, dịch sữa dừa được pha loãng 1,5 lần, sau đó điều chỉnh tới nhiệt độ 45oC rồi cho qua thiết bị ly tâm lần 1 với tốc độ 15.000 v/ph, lần 2 là 21.000 v/ph và lần 3 là 24.000 v/ph sẽ thu được dầu dừa. Tỷ lệ thu hồi dầu đạt 99,92%, hàm ẩm của dầu đạt 0,08 %. Dầu dừa thu được sau 3 lần ly tâm được loại nước trên thiết bị cô chân không, ở độ chân không 40 mbar, thời gian 13 phút, nhiệt độ 50oC, sau khi lọc chân không thu được dầu dừa tinh khiết (VCO) có chất lượng tương đương với tiêu chuẩn của Hiệp hội dừa châu Á – Thái Bình Dương (APCC).
Từ khóa: dầu dừa tinh khiết, ly tâm 3 pha, quả dừa, sữa dừa.
10. Nghiên cứu tạo chế phẩm nano vàng/carboxymethyl chitosan bằng kỹ thuật bức xạ ứng dụng làm chất chống oxy hóa/ Lê Quang Luân, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Hải Nam…// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 11 .- 11/2015 .- Tr. 52
Các chế phẩm vàng nano có kích thước 5,2; 6,7 và 7,3 nm được tạo ra bằng phương pháp chiếu xạ tia gamma các dung dịch Au3+ (HauCl) có nồng độ tương ứng là 0,25; 0,5 và 1 mM sử dụng carboxymethyl chitosan làm chất ổn định. Các đặc trưng quang học và kích thước hạt của chế phẩm vàng nano được xác định bằng phương pháp đo phổ UV-Vis và chụp ảnh TEM. Hoạt tính chống oxy hóa của chế phẩm vàng nano ở các nồng độ 0,025-0,5 mM cũng được xác định bằng phương pháp sử dụng chất bẫy gốc tự do ABTS (để đánh giá khả năng chống oxy hóa của AuNPs) và kết quả nhận được cho thấy, khi nồng độ vàng nano càng cao thì hoạt tính chống oxy hóa càng cao và thời gian phản ứng xảy ra càng nhanh. Ở nồng độ 0,375 mM, hoạt tính chống oxy hóa của chế phẩm vàng nano đạt hiệu quả cao nhất chỉ trong 3-5 phút. Hoạt tính chống oxy hóa của vàng nano có xu hướng tăng dần theo thời gian và cao hơn so với acid ascosbic ở cùng nồng độ sử dụng. Các kết quả đạt được cho thấy, chế phẩm nano vàng/ carboxymethyl chitosan tạo được theo phương pháp chiếu xạ này có thể được sử dụng làm nguyên liệu tiềm năng để sản xuất các sản phẩm chống oxy hóa dùng trong các ngành công nghiệp dược phẩm, thực phẩm chức năng và mỹ phẩm.
Từ khóa: ABTS, carboxymethyl chitosan, chất chống oxy hóa, chiếu xạ, vàng nano
11. Nghiên cứu ảnh hưởng của hiện tượng co ngót vật liệu sấy đến thời gian sấy (TGS) cà rốt dạng thái lát/ Trương Minh Thắng, Nguyễn Đức Lợi// Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam .- Số 11 .- 11/2015 .- Tr. 58
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu sự ảnh hưởng của hiện tượng co ngót vật liệu sấy đến thời gian sấy (TGS) cà rốt. Kết quả giải hệ phương trình truyền nhiệt, truyền chất trong quá trình sấy bằng phương pháp sai phân hữu hạn cũng như phương pháp tương tự để xác định TGS khi xét đến hiện tượng co ngót đều cho sai số nhỏ hơn rất nhiều so với thực nghiệm ở trường hợp bỏ qua hiện tượng này.
Từ khóa: co ngót, vật liệu sây, thời gian sấy, truyền nhiệt, truyền chất.
Trung tâm Thông tin Thư viện
♦ Ý kiến của bạn
Chia sẻ :

Địa chỉ: Số 36 - Đường Dân Lập - Phường Dư Hàng Kênh - Quận Lê Chân - TP Hải Phòng
Điện thoại: 0225 3740577 - 0225 3833802 -- Fax: 0225.3740476 Email: webmaster@hpu.edu.vn