TIN TỨC HPU

  Thứ sáu, 09/10/2015 - 10:33:27

Bài trích Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán số 8 và 9 năm 2015

Trung tâm thông tin thư viện trân trọng giới thiệu danh mục Bài trích Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán số 8 và 9 năm 2015
I. TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU TÀI CHÍNH KẾ TOÁN SỐ 8 NĂM 2015
1. Di chuyển tự do lao động có chuyên môn trong cộng đồng kinh tế Asean - Những vấn đề đặt ra/ Lê Minh Hạnh// Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán .- Số 8 .- 8/2015 .- Tr. 11
Cuối năm 2015, các quốc gia Asean sẽ trở thành cộng đồng kinh tế thống nhất trong đó áp dụng việc dịch chuyển tự do về lao động có chuyên môn thông qua các thỏa thuận về Công nhận tay nghề tương đương. Điều này mở ra nhiều cơ hội mới cho sự phát triển về kinh tế - xã hội của các quốc gia thành viên Asean. Tuy nhiên, nó cũng đặt các quốc gia này trước những thách thức mới về phát triển văn hóa, giữ gìn an ninh trật tự và đặc biệt là những tác động của nó đến thị trường lao động của các nước xuất khẩu và nhập khẩu lao động. Bài viết tập trung làm rõ một số thuận lợi và khó khăn đó.
Từ khóa: Lao động, nguồn nhân lực, kinh tế, Asean.
2. Vận dụng luật và chuẩn mực kế toán trong quá trình giảng dạy và học tập môn kế toán/ Ngô Thị Thu Hồng// Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán .- Số 8 .- 8/2015 .- Tr. 16
Trong những năm gần đây, để hòa nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam đã không ngừng nâng cao và hoàn thiện mọi mặt, trong đó có lĩnh vực kế toán đã và đang trong quá trình hoàn thiện cơ bản về khung pháp lý liên quan bao gồm ban hành luật kế toán, hệ thống chuẩn mực kế toán và các chế độ kế toán đối với từng loại hình doanh nghiệp khá cụ thể cùng với hàng loạt các văn bản thông tư hướng dẫn rất chi tiết. Vấn đề đặt ra hiện nay, trong quá trình giảng dạy và học tập, nghiên cứu môn kế toán - một môn chuyên ngành khá lớn và có uy tín trong lĩnh vực học tập, nghiên cứu ở Học viện Tài chính hiện nay trong phạm vi cả nước. Vậy, trong quá trình giảng dạy và học tập môn học Kế toán, việc vận dụng Luật và chuẩn mực kế toán được lồng ghép vào các nội dung như thế nào cho phù hợp mặc dù tại Học viện Tài chính cũng đã có một môn học riêng là môn chuẩn mực kế toán quốc tế giúp cho sinh viên chuyên ngành có cách tiếp cận, vân dụng vào học tập cũng như áp dụng trong thực tế một cách hoàn thiện hơn. Vậy làm thế nào để sinh viên khi học có liên quan đến môn Kế toán nói chung và chuyên ngành Kế toán nói riêng biết vận dụng các quy định của Luật và hệ thống chuẩn mực kế toán.
Từ khóa: Luật kế toán, chuẩn mực kế toán, giảng dạy, học tập.
3. Chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính tại các công ty kiểm toán vừa và nhỏ Việt Nam/ Đặng Thị Hương// Tạp chí Nghiên cứu Tài chính kế toán .- Số 8 .- 8/2015 .- Tr. 19
Trong điều kiện khủng hoảng nền kinh tế toàn cầu thì thông tin càng chứa đựng nhiều rủi ro, sai lệch, thiếu độ tin cậy. Một trong những nguyên nhân phải kể đến đó là áp lực cạnh tranh khiến cho tính liêm chính của nhà quản trị bị vi phạm. Vì mục tiêu trong kinh doanh, các nhà quản trị đơn vị có thể sẵn sàng vô hiệu hóa các bước kiểm soát, các thủ tục kiểm soát mà mình đã xây dựng trước đây nhằm đạt được mục tiêu của mình. Điều này dẫn đến hệ thống kiểm soát nội bộ kém hiệu lực, khả năng ngăn ngừa, phát hiện, sửa chữa kịp thời gian lận, sai sót thấp nên báo cáo tài chính tồn tại nhiều gian lận, sai sót trọng yếu. Chính vì vậy, để đảm bảo rủi ro kiểm toán ở mức có thể chấp nhận được, đảm bảo chất lượng cuộc kiểm toán thì KTV và công ty kiểm toán đặc biệt là những công ty kiểm toán vừa và nhỏ cần tiến hành cuộc kiểm toán thận trọng, thực hiện đầy đủ các bước công việc của quy trình kiểm toán và tuân thủ các quy định của chuẩn mực kiểm toán, đặc biệt là các bước công việc trong giai đoạn soát xét, tổng hợp và lập Báo cáo kiểm toán.
Từ khóa: kiểm toán, báo cáo, tài chính, công ty, Việt Nam.
4. Vận dụng mô hình “Z-score” để kiểm định kết quả phân hạng tín dụng nội bộ và ước lượng xác suất vỡ nợ/ Nguyễn Văn Hiệu// Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán .- Số 8 .- 8/2015 .- Tr. 26
Cùng với sự phá sản hàng loạt của các ngân hàng trên thế giới sau các cuộc khủng hoảng tài chính những năm 80, 90 thế kỷ trước và cuộc khủng hoảng tài chính gần đây nhất (bắt đầu vào năm 2008), ủy ban Basel đã lần lượt ban hành hiệp ước Basel I (1998); Basel (2004) và Basel III (2010). Nhiều nước phát triển đã cơ bản hoàn thành Basel II và đang thực hiện Basel III. Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác đang lập lộ trình từng bước thực hiện Basel II để hướng tới một hệ thống ngân hàng lành mạnh, minh bạch đủ sức đương đầu với những rủi ro tiềm ẩn, dần đạt tới chuẩn mực cao hơn theo các yêu cầu của hiệp ước Basel. Để thực hiện điều đó, một trong những điều kiện căn bản là các ngân hàng phải thiết lập được hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và ước lượng được xác suất vỡ nợ của khoản vay làm cơ sở cho việc trích lập dự phòng, định giá khoản vay cùng như các chính sách liên quan đến các khoản cấp tín dụng. Tuy đã đạt được kết quả bước đầu nhưng nhìn chung chất lượng kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ còn hạn chế. Việc ước lượng xác suất vỡ nợ của khoản vay để dự tính tổn thất hầu như chưa được áp dụng. Bài viết này hệ thống lại các yêu cầu của Basel về việc thiết lập hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, sự cần thiết phải ước lượng xác suất vỡ nợ và đề xuất sử dụng mô hình Z’score (và các phiên bản của nó) như một công cụ kiểm định lại kết quả xếp hạng tín dụng và ước lượng xác suất vỡ nợ của đối tượng vay.
Từ khóa: Mô hình Z-score; ngân hàng, tín dụng, nợ.
5. Tác động của chính sách thuế trong việc sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay/ Ngô Văn Khương// Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán .- Số 8 .- 8/2015 .- Tr. 31
Bài báo gồm những nội dung sau: Tầm quan trọng của việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường; Thực trạng của quá trình sản xuất kinh doanh, khai thác khoáng sản và vấn đề bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay; Tác động của chính sách thuế liên quan đến việc khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường; Các giải pháp sử dụng chính sách thuế nhằm sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
Từ khóa: thuế, chính sách, tài nguyên, môi trường, Việt Nam.
6. Nợ xấu và vấn đề quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng/ Đoàn Thị Hồng Nga// Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán .- Số 8 .- 8/2015 .- Tr. 45
Nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng tính đến tháng 12/2014 là 4,83%. Thống đốc Nguyễn Văn Bình cam kết sẽ đưa con số này về dưới 3% trong năm nay. Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng cho rằng, nợ xấu không tăng đột biến mà đã qua một quá trình tích tụ lâu dài từ hàng chục năm trước. Do đó, việc họ cần làm là xác định đúng quy mô nợ xấu để xử lý, đồng thời có biện pháp ngăn ngừa nợ xấu phát sinh.
Từ khóa: Nợ xấu, kinh doanh, ngân hàng, rủi ro.
7. Cơ sở dữ liệu - nền tảng quan trọng để áp dụng phương pháp tiếp cận IRB đối với rủi ro tín dụng/ Trần Thị Việt Thạch// Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán .- Số 8 .- 8/2015 .- Tr. 48
Bài báo giới thiệu về đo lường vốn cho rủi ro tín dụng dựa trên phương pháp tiếp cận xếp hạng nội bộ của Hiệp ước Basel 2; Thực trạng khoảng cách cơ sở dữ liệu của các NHTM Việt Nam so với chuẩn Basel 2; Hướng hoàn thiện cơ sở dữ liệu để đo lường RRTD theo cách tiếp cận IRB cho các NHTM Việt Nam.
Từ khóa: Cơ sở dữ liệu, tín dụng, ngân hàng thương mại, Việt Nam, IRB.
8. Xác định dòng tiền của doanh nghiệp khi quyết định thuê tài chính hay vay nợ để mua tài sản/ Phạm Thị Thanh Hòa// Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán .- Số 8 .- 8/2015 .- Tr. 50
Thuê tài chính hay vay nợ là quyết định tài trợ của doanh nghiệp. Để có thể lựa chọn là nên thuê tài chính hay vay nợ để mua tài sản, doanh nghiệp cần phải xác định được dòng tiền có liên quan đến quyết định thuê tài chính và vay nợ. Bài viết này xem xét những dòng tiền có liên quan đến quyết định thuê tài chính, vay nợ và so sánh giữa chúng để từ đó giúp doanh nghiệp có thể quyết định nên sử dụng hình thức nào để tài trợ vốn.
Từ khóa: Tiền, doanh nghiệp, nợ, tài sản, ngân hàng.
9. Chất lượng dịch vụ và hành vi chuyển đổi việc sử dụng dịch vụ của khách hàng cá nhân tại các NHTM Việt Nam/ Dương Thúy Hà// Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán .- Số 8 .- 8/2015 .- Tr.52
Bài nghiên cứu nhằm tìm hiểu về chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ và đề xuất các thang đo chất lượng dịch vụ trong các ngân hàng thương mại Việt Nam. Từ kết quả của nghiên cứu này, những nghiên cứu định lượng khác sẽ được tiến hành nhằm đánh giá những ảnh hưởng của những thang đo trong nhân tố chất lượng dịch vụ đến hành vi chuyển đổi việc sử dụng dịch vụ của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Từ khóa: Dịch vụ, ngân hàng thương mại, khách hàng, Việt Nam.
II. TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU TÀI CHÍNH KẾ TOÁN SỐ 9 NĂM 2015
1. Phương pháp tiếp cận đối với kiểm toán nội bộ trong hoạt động tín dụng tại các công ty tài chính/ Nguyễn Đăng Huy// Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán .- Số 9 .- 9/2015 .- Tr. 25
Kiểm toán nội bộ (KTNB) là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống cơ chế kiểm tra, giám sát nội bộ trong công ty tài chính (CTTC). Vì vậy, KTNB tại các CTTC sẽ không bị bó hẹp phạm vi hoạt động kinh doanh trong một công việc, bộ phận nào mà phải mở rộng phạm vi nghiên cứu ra tới tất cả loại hình nghiệp vụ mà các CTTC đã, đang và sẽ thực hiện. Có như vậy, KTNB mới hướng công việc của mình vào cải thiện và nâng cao chất lượng hoạt động, tăng cường sức mạnh cho cơ chế kiểm soát nội bộ phát huy hiệu quả…
Từ khóa: Tín dụng, kiểm toán nội bộ, công ty tài chính.
2. Nâng cao năng lực cạnh tranh các ngân hàng thương mại Việt Nam/ Đoàn Thị Hồng Nga// Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán .- Số 9 .- 9/2015 .- Tr. 35
Với năng lực quản trị hạn chế như hiện nay, các ngân hàng thương mại Việt Nam đang phải đối mặt với những rủi ro lớn, gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế. Từ thực tế này đòi hỏi bản thân mỗi ngân hàng phải không ngừng nâng cao năng lực quản trị để cạnh tranh không chỉ với ngân hàng trong nước mà còn cạnh tranh với các tổ chức tín dụng quốc tế.
Từ khóa: Ngân hàng thương mại, Việt Nam, cạnh tranh.
3. Giải pháp thúc đẩy phát triển quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam/ Nguyễn Lê Cường// Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán .- Số 9 .- 9/2015 .- Tr. 38
Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã được hình thành hơn 15 năm, đang trong quá trình dần hoàn thiện, ngày một phát triển để xứng đáng trở thành một kênh huy động vốn đầu tư trung, dài hạn và luân chuyển vốn đầu tư trọng yếu của nền kinh tế. Trong tiến trình đó, một chủ thể không thể thiếu, có vai trò cực kỳ quan trọng đối với mọi mặt hoạt động của thị trường, đối với khả năng phát huy tối đa các chức năng vốn có của TTCK chính là hệ thống các nhà đầu tư: Định hướng phát triển TTCK giai đoạn 2011-2020, trong đó quá trình tái cơ cấu TTCK tầm nhìn năm 2030, đã định rõ: cần tập trung phát triển nhà đầu tư tổ chức, các định chế đầu tư chuyên nghiệp; đa dạng hóa các loại hình quỹ đầu tư; khuyến khích việc thành lập các quỹ đầu tư ở nước ngoài đầu tư dài hạn vào thị trường Việt Nam,…
Từ khóa: Đầu tư, chứng khoán, quỹ, Việt Nam.
4. Nâng cao năng lực của kiểm soát viên doanh nghiệp/ Đinh Hoài Nam// Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán .- Số 9 .- 9/2015 .- Tr. 42
Ban kiểm soát (BKS)/ Kiểm soát viên (KSV) là một bộ phận quan trọng trong doanh ngiệp có chức năng kiểm tra, giám sát các hoạt động của doanh nghiệp, bảo vệ lợi ích của cổ đông, chủ sở hữu, đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp hiệu quả, đúng pháp luật và Điều lệ công ty. Hệ thống văn bản bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của BKS/KSV đến nay đã tương đối đầy đủ, rõ ràng, vai trò của BKS/KSV được đề cao. Tuy nhiên, thực tế haojt động của BKS/KSV chưa làm tròn các quyền và nghĩa vụ của mình, chưa đem lại kết quả như mong muốn, phần nhiều là mang tính hình thức. Nội dung bài viết đánh giá về thực trạng hoạt động của BKS/KSV, và đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao năng lực của KSV, giúp hoạt động của BKS/KSV đi vào thực chất hơn.
Từ khóa: Kiểm soát viên, doanh nghiệp, năng lực.
5. Ứng dụng chỉ số Tobin’s Q trong phân tích tài chính doanh nghiệp/ Nguyễn Thị Thùy Linh// Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán .- Số 9 .- 9/2015 .- Tr. 46
Xu hướng cổ phần hóa DNNN và mua bán sáp nhập đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với công tác đánh giá hiệu quả tài chính và thẩm định giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, công việc này không hề đơn giản do tính thiếu tin cậy của thông tin, kỹ thuật tính toán phức tạp và thường xảy ra sai số. Hơn nữa, theo quan điểm tài chính hiện đại, nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp hiện nay không những phải chuyển tải được ý nghĩa của các thông tin trên báo cáo tài chính mà còn phải xem xét doanh nghiệp trong trạng thái động và ghi nhận ảnh hưởng của các yếu tố vô hình. Đáp ứng được những yêu cầu đó, Tobin’s Q là một trong những chỉ tiêu tài chính được sử dụng phổ biến trong phân tích tài chính hiện nay.
Từ khóa: chỉ số Tobin’s Q, tài chính, doanh nghiệp.
6. Thanh tra các doanh nghiệp FDI có dấu hiệu chuyển giá - cần coi trọng phân tích thông tin và công tác phối hợp/ Nguyễn Đại Thắng// Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán .- Số 9 .- 9/2015 .- Tr. 49
Một trong những vấn đề làm đau đầu nhiều cơ quan chức năng ở Việt Nam thời gian qua, đặc biệt là cơ quan thuế, đó là vấn đề “chuyển giá” của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Có rất nhiều việc phải làm để nâng cao hiệu quả kiểm soát chuyển giá của các doanh nghiệp FDI, trong đó việc phân tích thông tin và làm tốt công tác phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan chức năng có vai trò vô cùng quan trọng.
Từ khóa: doanh nghiệp, FDI, thanh tra.
7. Cơ hội và thách thức đối với kinh doanh tín dụng tiêu dùng của các công ty tài chính Việt Nam/ Nguyễn Thị Hương Lan// Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán .- Số 9 .- 9/2015 .- Tr. 52
Tìn dụng tiêu dùng ra đời cùng với sự phát triển của hệ thống tổ chức tín dụng. Đây là một hình thức khá phổ biến đặc biệt là ở các nước phát triển trên thế giới. Tuy nhiên, hình thức này vẫn còn có mới mẻ ở Việt Nam. Tín dụng tiêu dùng là dịch vụ tín dụng cung cấp cho khách hàng các khoản vay phổ biến từ vài triệu đến vài chục triệu để mua sắm các hàng hóa tiêu dùng như xe máy, thiết bị điện tử điện lạnh, điện thoại di động, cưới hỏi, du lịch, sinh con… hoặc tiền mặt mà không phải thế chấp bất cứ loại tài sản nào, chỉ cần đáp ứng điều kiện tối thiểu như chứng minh thư, hộ khẩu, hóa đơn điện nước, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ… Thời hạn của tín dụng tiêu dùng khoảng từ 1 năm đến 5 năm. Nội dung bài viết đề cập đến những cơ hội và thách thức đối với các công ty tài chính nội trong việc kinh doanh mảng dịch vụ này.
Từ khóa: tín dụng, tiêu dùng, công ty tài chính, Việt Nam.
8. Đặc điểm đầu tư các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam và một số gợi ý chính sách/ Nguyễn Thanh Thảo// Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán .- Số 9 .- 9/2015 .- Tr. 56
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò quan trọng trong giải quyết việc làm và đóng góp vào tổng sản phẩm quốc gia. Tuy nhiên, để phát huy được đầy đủ vai trò của nó và đồng thời giúp ta đưa ra được những khuyến nghị hợp lý, thì hiểu rõ đặc điểm của loại hình doanh nghiệp này trong đó có đặc điểm về đầu tư và tiếp cận tín dụng, đây là yêu cầu khách quan và hết sức cần thiết.
Từ khóa: doanh nghiệp vừa và nhỏ, Việt Nam, đầu tư, chính sách.
Trung tâm Thông tin Thư viện
 
♦ Ý kiến của bạn
Chia sẻ :

Địa chỉ: Số 36 - Đường Dân Lập - Phường Dư Hàng Kênh - Quận Lê Chân - TP Hải Phòng
Điện thoại: 0225 3740577 - 0225 3833802 -- Fax: 0225.3740476 Email: webmaster@hpu.edu.vn