TIN TỨC HPU

  Thứ năm, 17/09/2015 - 11:08:59

Bài trích Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam số 8A và 8B năm 2015

Trung tâm Thông tin - Thư viện trân trọng giới thiệu !
1. Nghiên cứu chế tạo hệ thống điều khiển, giám sát tập trung dùng trong mỏ hầm lò/ Nguyễn Thế Truyện, Nguyễn Công Hiệu// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 8A .- 8/2015 .- Tr. 16
Đảm bảo an toàn lao động và vận hành, khai thác hiệu quả các thiết bị là nhiệm vụ quan trọng trong lĩnh vực khai khoáng hiện nay. Để phục vụ nhu cầu của các đơn vị khai thác hầm lò, Viện Nghiên cứu điện tử, Tin học, Tự động hóa đã nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thành công hệ thống điều khiển, giám sát tập trung dùng trong mỏ hầm lò, góp phần quan trọng vào việc quản lý và bảo đảm an toàn trong quá trình sản xuất tại các mỏ than, hầm lò.
Từ khóa: Mỏ than, hầm lò, công nhân, hệ thống giám sát, điều khiển.
2. Tạo phôi bò đơn tính In-Vitro// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 8A .- 8/2015 .- Tr. 26
Bằng các kỹ thuật nhân bản vô tính như hoạt hóa tế bào trứng và nuôi phôi, bước đầu các nhà khoa học thuộc Viện chăn nuôi đã tạo được phôi bò đơn tính in-vitro nhằm mục đích sử dụng như một đối chứng để nghiên cứu, chuẩn hóa các điều kiện tiến hành tạo phôi bò nhân bản từ các tế bào trứng nuôi thành thục có và không có màng sáng. Thành công này hứa hẹn sẽ là tiền đề cho các nghiên cứu khác về tạo phôi và động vật nhân bản tại Việt Nam.
Từ khóa: phôi bò, đơn tính, In-Vitro.
3. Chế tạo cảm biến CO2 dựa trên Composite Polymer - nano vô cơ// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 8A .- 8/2015 .- Tr. 40
Các nhà khoa học thuộc đại học Zurich (Thụy Sỹ) mới phát triển thành công một loại cảm biến khí có thể đo được chính xác hàm lượng CO2 trong môi trường khí ở nhiệt độ thường. Khác với những cảm biến CO2 đã thương mại hóa, cảm biến mới này nhỏ hơn, có cấu tạo đơn giản hơn, đòi hỏi năng lượng ít hơn và có nhiều chức năng hơn nhờ được cấu tạo từ một hệ composite kết hợp polymer va các hạt vật liệu vô cơ ở kích thước nano, có khả năng tương tác với CO2 và thay đổi độ dẫn điện tùy thuộc vào nồng độ CO2. Nhờ đó, chỉ cần đo điện trở của vật liệu mới này, các nhà khoa học có thể dễ dàng tính toán chính xác nồng độ CO2 trong khí quyển. Thành công này hứa hẹn sẽ đem đến một xu hướng nghiên cứu mới đối với việc chế tạo các cảm biến CO2.
Từ khóa: Cảm biến, CO2, Composite Polymer-nano vô cơ.
4. Những yếu tố mang đến sự tự chủ về công nghệ của một số nước Đông Á/ Nguyễn Hoàng Hải, Vũ Phương Lan// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 8A .- 8/2015 .- Tr. 43
Công nghệ luôn là yếu tố đóng vai trò then chốt trong việc tạo ra năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đối với các nền kinh tế. Để có được các sản phẩm hàng hóa có chất lượng, giá trị gia tăng cao, khả năng cạnh tranh vượt trội, các quốc gia nói chung, các doanh nghiệp nói riêng, đã không ngừng tìm kiếm các phương cách để có thể sở hữu hay làm chủ các công nghệ lõi, công nghệ nguồn nhằm phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Dựa trên trình độ phát triển và năng lực nội sinh của mình, có những quốc gia tập trung đầu tư nguồn lực để phát triển các công nghệ dựa trên những nỗ lực từ nghiên cứu cơ bản, những quốc gia khác lại hướng sự ưu tiên đến những cơ hội sở hữu và làm chủ các công nghệ thông qua các kênh chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, hay còn gọi là nhập khẩu công nghệ… Đó cũng chính là những yếu tố góp phần mang đến sự tự chủ về công nghệ cho một số quốc gia Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc.
Từ khóa: Công nghệ, Đông Á, tự chủ.
5. Giải mã công nghệ: hiểu và áp dụng như thế nào cho đúng?/Trần Văn Bình// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 8A .- 8/2015 .- Tr. 48
Cụm từ “ giải mã công nghệ” mới xuất hiện ở Việt Nam trong khoảng vài năm trở lại đây. Tuy nhiên, nếu vào trang tìm kiếm của Yahoo với nội dung “reverse engineering” chúng ta thấy có đến trên 50 triệu bản ghi thông tin được lưu trữ liên quan đến thuật ngữ này. Điều đó phần nào nói lên tầm quan trọng của hoạt động này. Vậy giải mã công nghệ là gì, chúng ta nên hiểu và áp dụng như thế nào cho đúng?
Từ khóa: Giải mã, công nghệ, Việt Nam.
6. Hấp thụ công nghệ qua đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: điều kiện từ phía Nhà nước và doanh nghiệp/ Trịnh Minh Tâm// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 8A .- 8/2015 .- Tr. 51
Bên cạnh tác động trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế, sự có mặt của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng thúc đẩy quá trình phổ biến và chuyển giao công nghệ. Đối với doanh nghiệp trong nước, để vượt qua những yếu kém về công nghệ, thường có xu hướng muốn áp dụng ngay công nghệ tiên tiến hoặc trực tiếp thông qua thành lập các liên doanh với đối tác nước ngoài, hoặc gián tiếp thông qua phổ biến và chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra với các nước nghèo là liệu các điều kiện trong nước có đủ để đón nhận, phổ biến và chuyển giao công nghệ hay không. Nhiều kết quả nghiên cứu cũng rút ra rằng, mức độ phổ biến và chuyển giao công nghệ còn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ của doanh nghiệp trong nước.
Từ khóa: Đầu tư, nước ngoài, Việt Nam, doanh nghiệp.
II. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM SỐ 8B NĂM 2015
1. Nghiên cứu sử dụng tế bào gốc tủy xương tự thân trong điều trị khớp giả, hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi và kéo dài chi/ Nguyễn Thị Thu Hà, Lý Tuấn Khải, Nguyễn Thanh Bình…// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 8B .- 8/2015 .- Tr.1
Việc sử dụng tế bào gốc (TBG) tủy xương trong điều trị một số tổn thương xương khớp hiện đang được các tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Ở Việt Nam, công trình nghiên cứu sử dụng TBG tủy xương tự thân trong điều trị khớp giả (KG), hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi (CXĐ) và kéo dài chi là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên trong lĩnh vực này, tạo cơ sở cho nhiều nghiên cứu tiếp theo. Nghiên cứu nhằm thực hiện các mục tiêu: 1. Đánh giá kết quả điều trị KG thân xương dài, hoại tử vô khuẩn CXĐ, kéo dài chi bằng ghép TBG tủy xương tự thân; 2. Xác định mối liên quan giữa số lượng TBG được ghép với hiệu quả điều trị . Trong tổng số 228 bệnh nhân (BN) được nghiên cứu, có 142 BN KG thân xương dài, 50 BN hoại tử vô khuẩn CXĐ giai đoạn I, II (theo ARCO) và 36 BN tầm vóc thấp được kéo dài chi. Với phương pháp tiêm trực tiếp 20-30 ml khối TBG tự thân chiết tách từ 250-350 ml dịch tủy xương vào vị trí tổn thương, kết quả cho thấy, 84,5% BN KG đã liền xương với thời gian trung bình là 19,8 ±9,5 tuần và đã được ghép nhiều TBG trung mô hơn so với những BN không liền xương; 82% BN hoại tử vô khuẩn CXĐ đạt kết quả điều trị từ khá, tốt đến rất tốt (theo thang điểm Harris) đã được ghép số lượng TBG trung mô nhiều hơn so với nhóm đạt kết quả điều trị trung bình và kém; những bệnh nhân kéo dài chi được ghép TBG có thời gian liền xương trung bình cho 1 cm kéo dài là 29,5±4,5 ngày, giảm đáng kể so với không sử dụng TBG. Sau quá trình theo dõi kết quả điều trị 5 năm sau ghép, có thể kết luận: TBG tủy xương tự thân sử dụng trong điều trị KG, hoại tử vô khuẩn CXĐ và kéo dài chi có hiệu quả tốt và an toàn, có mối liên quan thuận giữa số lượng TBG được ghép va kết quả điều trị.
Từ khóa: hoại tử vô khuẩn CXĐ, kéo dài chi, KG, TBG tủy xương.
2. Phẫu thuật nội soi khâu sụn viền kết hợp tạo chốt xương ở bờ trước ổ chảo điều trị mất vững phía trước khớp vai/ Nguyễn Tiến Bình, Vũ Nhất Định// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 8B .- 8/2015 .- Tr. 7
Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi khâu sụn viền kết hợp tạo chốt xương ở bờ trước ổ chảo điều trị mất vững phía trước khớp vai. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10.2013 đến tháng 12.2014, với 20 khớp vai (trên 20 bệnh nhân bị sai khớp vai trái diễn ra trước) được phẫu thuật nội soi khâu sụn viền kết hợp tạo chốt xương ở bờ trước ổ chảo. Vít chỉ neo ở vị trí 5-6h và 4-5h đối với vai phải hoặc 6-7h và 7-8h đối với vai trái. Mảnh xương ghép mào chậu được chốt ở vị trí 3 h hoặc 9 h ở bờ trước ổ chảo. Nhóm bệnh nhân có tuổi trung bình 26±1.35 (17-43) tuổi, thời gian theo dõi trung bình là 11±0,35 tháng. Kết hợp nghiên cứu cho thấy: không gặp biến chứng tổn thương mạch máu, thần kinh; không gặp trường hợp khớp giả mảnh ghép - bờ trước ổ chảo; mảnh ghép xương liền tốt; 20/20 trường hợp đạt kết quả tốt và rất tốt. Qua nghiên cứu có thể kết luận: phẫu thuật nội soi khâu sụn viền kết hợp tạo chốt xương ở bờ trước ổ chảo là phương pháp điều trị tốt đối với mất vững phía trước khớp vai. Phẫu thuật nội soi có thể quan sát rõ và xác định chính xác vị trí tạo chốt xương, là can thiệp ít xâm lấn và có tính thẩm mỹ.
Từ khóa: bệnh mất vững phía trước, khớp vai, phẫu thuật, nội soi, khâu, sụn viền.
3. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả bước đầu điều trị chít hẹp khí quản bằng nội soi can thiệp/ Đỗ Quyết, Mai Xuân Khẩn, Tống Đức Hiếu// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 8B .- 8/2015 .- Tr. 13
Qua nghiên cứu 30 bệnh nhân (BN) chít hẹp khí quản (CHKQ) sau đặt nội khí quản (NKQ)/ mở khí quản (MKQ) và thực hiện nội soi can thiệp cho 10 BN, tại Bệnh viện quân y 103 trong thời gian 2012-2014, cho thấy: sau khi được điều trị CHKQ bằng nội soi can thiệp, các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng có sự thay đổi rõ rệt theo hướng tích cực. Kỹ thuật ít tai biến và biến chứng.
Từ khóa: bệnh nhân, chít hẹp khí quản, nội soi can thiệp.
4. Kết quả điều trị chấn thương gan bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Việt Đức/ Nguyễn Tiến Quyết, Dương Trọng Hiền, Trần Bình Giang// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 8B .- 8/2015 .- Tr. 20
Điều trị chấn thương (CT) gan luôn là một vấn đề thời sự, với nhiều bước tiến vượt bậc nhờ sự phát triển của chẩn đoán hình ảnh, điều trị chủ yếu là bảo tồn, không mổ, tuy nhiên phương pháp phẫu thuật nội soi (PTNS) cũng được đặt ra và có thể áp dụng trong một số trường hợp. Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu đánh giá kết quả điều trị CT gan bằng PTNS trên 32 bệnh nhân (BN) CT gan (23 nam, 9 nữ), tuổi trung bình 30,2±12,7, trong đó có 26 trường hợp được xử trí bằng PTNS, 6 trường hợp chuyển mổ mở để xử trí tổn thương. Kết quả cho thấy, không có biến chứng nặng trong và sau mổ. Như vậy, có thể kết luận: dùng PTNS chẩn đoán và điều trị CT gan là an toàn và có kết quả tốt ở những BN huyết động ổn định hay CT gan có kèm tổn thương tạng rỗng.
Từ khóa: CT, gan, phẫu thuật, nội soi.
5. Đánh giá ảnh hưởng của laser trên một số chỉ tiêu hình thái phôi 3 ngày tuổi để chẩn đoán di truyền tiền làm tổ/ Nguyễn Đình Tảo, Nguyễn Ngọc Diệp, Nguyễn Thanh Tùng// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 8B .- 8/2015 .- Tr. 26
Hiện nay, có nhiều phương pháp điều trị cho các bệnh nhân (BN) hiếm muộn, trong đó phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) đóng vai trò quan trọng và ngày càng được phát triển rộng khắp trên thế giới, song tỷ lệ thành công mới chỉ đạt khoảng 30-40%. Việc lựa chọn phôi hầu như chỉ dựa trên những tiêu chuẩn về hình thái, do vậy chưa phản ánh đầy đủ chất lượng thực của phôi, dẫn đến kết quả điều trị TTTON bị hạn chế. Để nâng cao chất lượng điều trị, đồng thời sàng lọc một số bệnh di truyền, việc chẩn đoán di truyền trước chuyển phôi là một trong những yêu cầu quan trọng và cấp thiết, nhưng để thực hiện được kỹ thuật này cần phải sinh thiết phôi. Trên cơ sở đó, các tác giả đã triển khai đề tài “Nghiên cứu hình thái phôi sau sinh thiết để chẩn đoán di truyền trước chuyển phôi” nhằm đánh giá sự thay đổi hình thái phôi sau sinh thiết ngày 3 (phôi được nuôi cấy đến ngày thứ 3 trước khi sinh thiết) và tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng tới khả năng phôi sống sót và tạo phôi túi sau sinh thiết.
Từ khóa: Vô sinh, bệnh nhân, y học, laser, sinh thiết, phôi, di truyền.
6. Nghiên cứu sản xuất mẫu chuẩn vi rút Rota cho kiểm định vắc xin Rotavin-M1/ Lê Thị Luân, Nguyễn Đăng Hiền, Trần Bích Hạnh…// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 8B .- 8/2015 .- Tr. 32
Qua nghiên cứu, Trung tâm Nghiên cứu, sản xuất Vắc xin và Sinh phẩm y tế đa thiết lập được 987 ampul mẫu chuẩn nội bộ công hiệu vắc xin Rota với ký hiệu RR0123, 0,8 ml/ampul với hiệu giá 7,41 lg PFU/ml. Mẫu chuẩn sử dụng trong vòng 20-30 năm và được bảo quản ở -70oC. Loạt vắc xin mẫu chuẩn này có ý nghĩa thiết thực phục vụ cho công tác kiểm định vắc xin tại Trung tâm.
Từ khóa: vắc xin mẫu chuẩn, vắc xin Rota, vi rút Rota.
7. Ảnh hưởng của thời gian và số lần cấy chuyển đến sự phát triển và hàm lượng hoạt chất của tế bào sâm Ngọc Linh/ Vũ Tuấn Anh, Chử Văn Mến// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 8B .- 8/2015 .- Tr. 36
Trong nghiên cứu này, ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy và số lần cấy chuyển tới sự phát triển và hàm lượng hoạt chất của sinh khối sâm Ngọc Linh trên hệ thống biorector 30 lít đã được xác định. Với môi trường MS bổ sung NAA=,5 mg/l; kinetin = 0,1 mg/l; đường=30,0 g/l, pH=5,6-5,8; nhiệt độ nuôi cấy là 24-26oC, không có ánh sáng, tốc độ cánh khuấy là 50 vòng/phút, thời gian nuôi cấy tối ưu trên bioreactor 30 lít là 24 ngày, khối lượng tế bào thu được là 31,24 g/l và khối lượng saponin toàn phần đạt 24,97 mg/g tế bào khô. Sau lần cấy chuyển thứ 2, tế bào cần được chuyển sang môi trường mới ở quy mô cao hơn để đảm bỏ tốc độ phát triển tối ưu.
Từ khóa: hoạt chất, số lần cấy chuyển, tế bào sâm Ngọc Linh, thời gian nuôi cấy.
8. Phân tích nhiệt vi sai hoạt chất Paclitaxel với các tá dược lipid/ Trương Công Trị, Đặng Thanh Long, Hà Diệu Ly…// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 8B .- 8/2015 .- Tr. 39
Trong nghiên cứu này, các tác giả khảo sát và đánh giá tương tác trên biểu đồ phân tích nhiệt vi sai DSC của hoạt chất Paclitaxel với các tá dược Phospholipon 90G và Montanox 80 PPI với mục tiêu khảo sát tính chất hóa lý của hoạt chất, tương tác hoạt chất - tá dược trước khi thiết lập công thức và xây dựng quy trình bào chế hệ phân tán nanoliposome Paclitaxel. Qua biểu đồ nhiệt DSC cho thấy, có sự tương tác giữa hoạt chất và hỗn hợp tá dược phospholipid - polyoxylglycerid, Paclitaxel hòa tan hoàn toàn trong các hỗn hợp tá dược ở tỷ lệ hoạt chất - tá dược (1:10,kl/kl). Các tương tác vật lý này ổn định sau 2 tuần bảo quản ở nhiệt độ thường. Kết quả khảo sát nhiệt vi sai DSC sẽ góp phần theo dõi tương tác vật lý dược chất - tá dược trong thiết kế phát triển các hệ phân tán nanoliposome trên nền tảng tá dược phospholipid - polyoxylglycerid.
Từ khóa: hoạt chất Paclitaxel, tá dược, lipid, nhiệt vi sai.
9. Nghiên cứu bào chế Liposome Amphotericin B/ Nguyễn Tuấn Quang, Phạm Thị Minh Huệ// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 8B .- 8/2015 .- Tr. 43
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu bào chế Liposome Amphotericin B (AmB) theo 2 phương pháp: hydrat hóa film và pha loãng ethanol. Các thành phần chính dùng để bào chế bao gồm AmB, hydrogenated soybean phosphatidylcholine (HSPC), distearoyl phosphatidylglycerol (DSPG) và cholesterol. Từ kết quả nghiên cứu, đã lựa chọn được một số yếu tố công thức cũng như quy trình bào chế có hiệu quả cao nhất. Với phương pháp hydrat hóa film, đã lựa chọn được tỷ lệ dược chất/ tổng lượng lipid là 9% mol; tỷ lệ HSPC/DSPG là 2/0,8; dung dịch hydrat hóa là đệm citrat pH=5 và bào chế được Liposome AmB có kích thước tiểu phân (KTTP)=228 nm, độ phân bố KTTP (PDI)=0,189, hiệu suất Liposome hóa là 89,41%. Với phương pháp pha loãng ethanol, lựa chọn được tỷ lệ thể tích pha ethanol/pha nước là 8/100, nhiệt độ phối hợp 2 pha là 60oC, tốc độ khuấy trộn 2 pha là 3900 vòng/phút cho quy trình bào chế; bào chế được Liposome AmB có KTTP=190 nm, PDI=0,136, hiệu suất Liposome hóa là 73,20%.
Từ khóa: bào chế, hydrat hóa film, Liposome Amphotericin B, pha loãng ethanol.
10. Nghiên cứu tổng hợp Tenofovir disoproxil fumarate/ Nguyễn Văn Tài, Phan Thị Trang, Nguyễn Thị Hà// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 8B .- 8/2015 .- Tr. 47
Tenofovir disoproxil fumarate (biệt dược Viread®) là thuốc kháng virus tác dụng theo cơ chế ức chế enzyme sao mã ngược – một enzyme quan trọng cho quá trình phát triển của virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) và virus gây viêm gan B. Trong bài báo này, các tác giả trình bày kết quả tổng hợp tenofovir disoproxil fumarate từ adenin qua 5 bước với hiệu suất ở mức khá cao và quy trình đơn giản, có thể áp dụng ở quy mô lớn.
Từ khóa: adenine, HIV, tenofovir disoproxil fumarate, viêm gan B.
11.  Bán tổng hợp Paclitaxel từ 10-Deacatyl Baccatin trích từ cây Thông đỏ Lâm Đồng/ Trần Công Luận, Nguyễn Lê Mỹ Tiên, Lê Đặng Quỳnh Như…// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 8B .- 8/2015 .- Tr. 51
Palitaxel là một dược chất có tác dụng điều trị ung thư, có hàm lượng rất nhỏ trong các loài thông đỏ thuộc họ Taxaceae. Với công dụng quan trọng của dược chất này, các nhà khoa học đã và đang nỗ lực nghiên cứu để tổng hợp được Paclitaxel. Do có cấu trúc hóa học phức tạp nên việc tổng hợp toàn phần dược chất Paclitaxel là rất tốn kém. Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã nghiên cứu bán tổng hợp Paclitaxel từ 10-Deacetyl Baccatin (10-DAB), một hoạt chất sẵn có cho năng suất cao được phân lập từ cây Thông đỏ lá dài (Taxus wallichiana Zucc) trồng ở Lâm Đồng, với hiệu quả kinh tế cao.
Từ khóa: bán tổng hợp, cây Thông đỏ, Lâm Đồng, Paclitaxel, 10-Deacetyl Baccatin.
12. Nghiên cứu định lượng Wedelolacton trong cao khô dược liệu Cỏ nhọ nồi bằng phương pháp HPLC/ Nguyễn Minh Túy, Phan Hiền Lương, Ngô Thanh Hòa// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 8B .- 8/2015 .- Tr. 56
Cỏ nhọ nồi có tên khoa học là Eclipta alba Hassk (hoặc Eclipta prostrata L.) thuộc họ cúc Asteraceae, có tác dụng bổ máu, cầm máu, bổ thận, giải độc gan… Trong đó, Wedelolacton là một dược chất sinh học quan trọng có tác dụng chữa bệnh của Cỏ nhọ nồi. Bài báo trình bày phương pháp nghiên cứu định lượng Wedelolacton trong cao khô dược liệu Cỏ nhọ nồi bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) với các điều kiện sắc ký: cột Acclaim 120 Ao, C18 (100x4,6 nm, 3 µm); bước sóng phát hiện: 350 nm; tốc độ dòng: 1,0 ml/phút; thể tích tiêm: 20 µl; pha động: Acetonitrin - nước cất (CAN-H2O) (23:77). Kết quả nghiên cứu cho thấy, phương pháp này đáp ứng các tiêu chí về: tính tích hợp, tính đặc hiệu, khoảng nồng độ tuyến tính, độ đúng, độ lặp lại và độ chính xác trung gian, giới hạn định lượng, giới hạn phát hiện. Do đó, có thể áp dụng để định lượng Wedelolacton trong cao khô Cỏ nhọ nồi, góp phần kiểm soát và nâng cấp tiêu chuẩn chất lượng nguồn nguyên liệu sản xuất thuốc.
Từ khóa: Cỏ nhọ nồi, sắc ký lỏng, hiệu năng, Wedelolacton.
13. Các hợp chất anthraquinone phân lập từ rễ cây Nhó đông ở Việt Nam/ Nguyễn Mạnh Cường, Phạm Ngọc Khanh, Nguyễn Văn Tài// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 8B .- 8/2015 .- Tr. 60
Cây Nhó đông (Morinda longissima Y.Z Ruan, Rubiaceae) là một loại dược liệu rất có giá trị và đã được người dân tộc Thái ở Sơn La sử dụng trong điều trị các bệnh về gan và việm đại tràng từ lâu đời. Việc phân lập và xác định được cấu trúc của các hợp chất anthraquinone từ cây Nhó đông là rất cần thiết, giúp các nhà khoa học hiểu thêm về cơ chế, tác dụng chữa bệnh của cây thuốc này. Trong nghiên cứu dưới đây, các nhà khoa học đã phân lập và xác định được cấu trúc của 7 hợp chất anthraquione từ các phân tử rễ Nhó đông, bao gồm: soranjidiol, rubiadin, rubiadin-3-methyl ether; morindon, lucidin-ω-methyl ether; damnacanthal và damnacanthol.
Từ khóa: cây Nhó đông, hợp chất anthraquinone, rễ.
Trung tâm Thông tin Thư viện
 
 
♦ Ý kiến của bạn
Chia sẻ :

Địa chỉ: Số 36 - Đường Dân Lập - Phường Dư Hàng Kênh - Quận Lê Chân - TP Hải Phòng
Điện thoại: 0225 3740577 - 0225 3833802 -- Fax: 0225.3740476 Email: webmaster@hpu.edu.vn