TIN TỨC HPU

  Thứ hai, 20/07/2015 - 15:10:33

Bài trích Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ từ số 11 đến số 14 năm 2015

Trung tâm Thông tin Thư viện trân trọng giới thiệu!
I. TẠP CHÍ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ SỐ 11 NĂM 2015
1. Chính sách tín dụng ngân hàng thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội khu vực Tây Nguyên/ Võ Minh Tuấn// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 11 .- 6/2015 .- Tr. 15
Nhận thức được ý nghĩa kinh tế - chính trị - xã hội quan trọng của khu vực, trong những năm qua, ngành ngân hàng luôn bám sát chủ trương, định hướng phát triển khu vực Tây Nguyên của Đảng và Chính phủ để có những chính sách phù hợp nhằm phát huy những tiềm năng, lợi thế của khu vực, giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế và từng bước nâng cao đời sống người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc trên địa bàn.
Từ khóa: Tín dụng, ngân hàng, Tây Nguyên.

2. Nguồn vốn tín dụng ngân hàng với mục tiêu phát triển bền vững ngành cà phê Tây Nguyên/ Trần Văn Tần// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 11 .- 6/2015 .- Tr. 18
Dư nợ cho vay cà phê toàn quốc đến cuối năm 2014 đạt khoảng 37.000 tỷ đồng, tăng 20,1% so với cuối năm 2013 và tăng gấp 1,96 lần so với năm 2010. Trong đó, dư nợ tại 5 tỉnh khu vực Tây Nguyên năm 2014 đạt 30.015 tỷ đồng tăng 17,25% so với năm 2013 và chiếm 81,1% dư nợ cho vay cà phê toàn quốc. Dư nợ tín dụng đối với ngành cà phê luôn chiếm khoảng 25% tổng dư nợ cho vay của khu vực.
Từ khóa: Tín dụng, ngân hàng, cà phê, Tây Nguyên.

3. Kinh nghiệm quốc tế cho vay có bảo đảm là tài sản trí tuệ và giải pháp khuyến nghị cho Việt Nam/  Phạm Văn Hiếu// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 11 .- 6/2015 .- Tr. 21
Tài sản của doanh nghiệp có thể chia làm hai loại chính: tài sản hữu hình - gồm nhà xưởng, máy móc, nguồn vốn, cơ sở hạ tầng và tài sản vô hình, trong đó có TSTT - gồm nhãn hiệu, thương hiệu, bản quyền, bằng sáng chế... Theo truyền thống, tài sản hữu hình chiếm phần lớn giá trị của doanh nghiệp và được coi là có vai trò quyết định với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhờ cuộc cách mạng công nghệ thông tin và sự phát triển của nền kinh tế dịch vụ, khu vực doanh nghiệp nhận ra rằng, tài sản vô hình có giá trị lớn hơn so với tài sản hữu hình. Việc huy động được nguồn TSTT này vào việc bảo đảm các quan hệ tín dụng sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng doanh nghiệp.
Từ khóa: Cho vay, ngân hàng, Việt Nam, kinh nghiệm.

4. Quản trị công ty trong tái cấu trúc ngân hàng/ Thanh Hương// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 11 .- 6/2015 .- Tr. 24
Việc nâng cao năng lực quản trị công ty (QTCT) của các NHTM Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế đang là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống ngân hàng. Học hỏi kinh nghiệm và thông lệ quốc tế về QTCT trong ngân hàng trên thế giới, nhìn nhận thực trạng về quản trị ngân hàng (QTNH) trong các NHTM Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp để thực hiện tốt hơn QTNH là một trong những nhiệm vụ của các lãnh đạo ngân hàng, các nhà hoạch định chính sách.
Từ khóa: Tái cấu trúc, ngân hàng, quản trị. 

5. Đột phá tài trợ tín dụng đối với doanh nghiệp trong hội nhập/ Nguyễn Thị Thúy// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 11 .- 6/2015 .- Tr. 27
Đối với Việt Nam, thực hiện chính sách lấy xuất khẩu để tăng trưởng kinh tế là cần thiết và đúng đắn, tuy nhiên thực trạng doanh nghiệp trong nước chỉ mạnh về số lượng còn chất lượng thì cực kỳ yếu, muốn nâng cao năng lực cạnh tranh trong hội nhập thì trước tiên phải kiên quyết và nhanh chóng thực hiện tái cơ cấu có chất lượng (tạo sức mạnh mới sau tái cơ cấu). Trước hết là đối với doanh nghiệp Nhà nước là: cổ phần, sáp nhập, bán chuyển nhượng quyền sở hữu.
Từ khóa: Tín dụng, doanh nghiệp, ngân hàng.

6. Chế định người đại diện theo pháp luật theo quy định mới/  Bùi Đức Giang// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 11 .- 6/2015 .- Tr. 30
Ngày 26/11/2014, Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 đã được Quốc hội ban hành, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2015 (LDN 2014).  Văn bản luật này có khá nhiều thay đổi căn bản so với quy định hiện hành(1), và nhìn chung được đánh giá là một bước tiến mới trong pháp luật doanh nghiệp. Chế định người đại diện theo pháp luật vốn còn sơ sài theo quy định cũ được bổ sung, hoàn thiện. Tuy vậy, vẫn còn một số điểm trong chế định này còn chưa rõ hay có thể gây ra khó khăn khi áp dụng trong thực tế, nhất là khi ngân hàng cấp tín dụng.
Từ khóa: Doanh nghiệp, pháp luật, quy định.

7. Tăng cường quản lý rủi ro khi mở rộng cho vay tiêu dùng/ Đào Minh Thảo// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 11 .- 6/2015 .- Tr. 32
Trong bối cảnh hiện nay, việc các ngân hàng chuyển hướng sang “chăm sóc” người tiêu dùng là hoàn toàn hợp lý bởi dân số Việt Nam hiện đã lên đến trên 90 triệu người, nhu cầu sử dụng tiền vào các việc nhỏ lẻ như mua sắm, sửa chữa nhà cửa và đặc biệt là mua xe, mua nhà trả góp là rất lớn. Nếu chỉ 1/9 dân số, tức là 10 triệu người vay và mỗi người vay bình quân 40 triệu đồng/năm, thì tổng số tiền cho vay ra đã đạt mức 400 ngàn tỷ đồng, một con số vô cùng lớn. Chưa dừng ở đó, do vay tiêu dùng thường ở mức giá trị thấp, có tài sản thế chấp cũng như phương án trả nợ, nên đối với ngân hàng đây là những khoản vay an toàn và dễ thu hồi nợ.
Từ khóa: Rủi ro, cho vay, tiêu dùng, quản lý.
 
8. Bài học quốc tế về an toàn nợ công/  Dương Thị Thúy Nga, Bùi Thị Liên, Phan Diệu Ngọc// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 11 .- 6/2015 .- Tr. 34
Thâm hụt NSNN của Việt Nam cao nhất vào năm 2009 được cho là bắt nguồn từ gói kích cầu 1 tỷ USD năm 2008, 2 gói kích cầu với tổng số 9 tỷ USD năm 2009 của Chính phủ, và từ hàng loạt các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và đầu tư lớn gần đây. Thực tế là đầu tư công của Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực tuy nhiên hiệu quả đầu tư lại thấp hơn. Chỉ số ICOR của Việt Nam cao hơn và có xu hướng tăng lên trong khi đa phần các nước có xu hướng cải thiện hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
Từ khóa: Quốc tế, nợ công, kinh nghiệm.

9. Xu hướng đa dạng hóa ngoại tệ trong thanh toán quốc tế/ Đinh Xuân Cường// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 11 .- 6/2015 .- Tr. 37
Trong những năm trở lại đây, tỷ giá đồng USD so với các đồng tiền khác trên thế giới có những biến động khá phức tạp, cho thấy sự mất ổn định của giá trị đồng tiền này. Đồng USD biến động ngày càng lớn so với các đồng tiền khác. Thực tế giai đoạn vừa qua đã chứng minh điều này: mức độ dao động của USD với các đồng tiền chính trong giao dịch quốc tế là rất lớn, theo thống kê là 40% so với Bảng Anh (GBP), và trên 20% với Euro (EUR) và 30% với Franc Thụy Sỹ (CHF). Cụ thể hơn, đồng USD có xu hướng tăng giá với đồng EUR và GBP, giảm giá với đồng CHF.
Từ khóa: ngoại tệ, chính sách, tiền tệ, thanh toán, quốc tế.

II. TẠP CHÍ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ SỐ 12 NĂM 2015
1. Nhìn lại chặng đường thực hiện tái cơ cấu các lĩnh vực trọng tâm của nền kinh tế giai đoạn 2011-2014/ Nguyễn Quốc Toản// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 12 .- 6/2015 .- Tr. 11
Sau hơn 4 năm thực hiện chủ trương tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế, một số tiêu chí cơ bản và quan trọng đã đạt được kết quả tích cực. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định hơn, tỷ lệ tăng trưởng bình quân 4 năm (2011-2014) đạt 5,82%, cao hơn mức tăng trưởng bình quân của các nước ASEAN cùng thời kỳ (tốc độ tăng trưởng năm 2011 là 6,24%; năm 2012 là 5,25%; năm 2013 là 5,42%; năm 2014 đạt 5,98%; năm 2015 dự báo tăng 6,2%). Lạm phát được kiểm soát, tỷ lệ lạm phát đã giảm mạnh từ mức 18,13% (năm 2011) xuống chỉ còn khoảng 3% năm 2014.
Từ khóa: tái cơ cấu, kinh tế, 2011, 2014.
2. Giải pháp xử lý nợ xấu nhìn từ góc độ pháp lý/ Phạm Văn Hiếu// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 12 .- 6/2015 .- Tr. 17
Từ năm 2012 đến nay, ngành Ngân hàng đã tích cực xử lý nợ xấu bằng nhiều giải pháp quyết liệt và đạt được kết quả quan trọng, đưa nợ xấu của các TCTD về gần mức an toàn, nhờ đó tín dụng đã được đẩy vào nền kinh tế một cách hiệu quả, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, công tác xử lý nợ xấu của ngành Ngân hàng vẫn đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, trong đó rào cản lớn nhất trong xử lý nợ xấu là do các vướng mắc pháp lý.
Từ khóa: Nợ xấu, pháp lý, ngân hàng.

3. Tháo gỡ vướng mắc, khó khăn để đẩy nhanh công tác xử lý nợ xấu/  Đào Minh Dân// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 12 .- 6/2015 .- Tr. 20
Theo kinh nghiệm quốc tế, để xử lý nợ xấu nhanh và hiệu quả, các nước thường phải chi một khoản lớn từ Nhà nước, đồng thời phải có khung khổ pháp lý hoàn chỉnh về xử lý nợ xấu và có thị trường tài chính phát triển. Tuy nhiên, việc xử lý nợ xấu ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn và cần phải có thời gian, do khung khổ pháp lý chưa hoàn chỉnh, không có nguồn ngân sách nhà nước và cũng chưa có nhiều kinh nghiệm xử lý. Năng lực quản trị, tiềm lực tài chính, hiệu quả hoạt động của nhiều TCTD đã được cải thiện song vẫn chưa cao.
Từ khóa: Nợ xấu, ngân hàng.

4. Rủi ro khó lường khi nhận một số loại tài sản bảo đảm/ Nguyễn Thị Thái Hưng// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 12 .- 6/2015 .- Tr. 24
Trên thực tế các NHTM có thể nhận rất nhiều loại tài sản khác nhau để làm tài sản bảo đảm cho khoản vay của khách hàng tại ngân hàng. Tuy nhiên, hệ thống tài sản bảo đảm mà các NHTM nhận được từ khách hàng có thể chia thành 7 nhóm bao gồm giấy tờ có giá, phương tiện vận tải, máy móc thiết bị, hàng hóa tồn kho, bất động sản, tài sản của người bảo lãnh, quyền tài sản. Trong số các loại tài sản này, một số loại chỉ sử dụng hình thức bảo đảm là thế chấp như: Quyền sử dụng đất (Luật Đất đai năm 2003), nhà ở (Luật Nhà ở năm 2005), tàu cá (Luật Thủy sản năm 2003), tàu biển (Bộ Luật Hàng hải năm 2005)
Từ khóa: rủi ro, tài sản, ngân hàng thương mại.

5. Đo lường chỉ số hài lòng của khách hàng đối với ngân hàng/ Đinh Xuân Cường//  Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 12 .- 6/2015 .- Tr. 28
Chỉ số hài lòng của khách hàng (CSI) được ứng dụng nhằm đo lường sự hài lòng của khách hàng đối với các ngành, các doanh nghiệp ở nhiều quốc gia phát triển trên thế giới. Việc thỏa mãn khách hàng trở thành một tài sản quan trọng đối với các doanh nghiệp và tổ chức trong nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ, giữ vững sự trung thành, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chỉ số đo mức độ hài lòng đầu tiên được ra đời vào năm 1989 tại Thụy Điển (SCSB) nhằm thiết lập chỉ số hài lòng của khách hàng đối với việc mua và tiêu dùng sản phẩm - dịch vụ nội địa.
Từ khóa: chỉ số, hài lòng, khách hàng, ngân hàng.
 
6. Đánh giá những thay đổi chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương châu Âu giai đoạn 2010-2015/ Nguyễn Tường Vân, Trần Thanh Ngân// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 12 .- 6/2015 .- Tr. 32
Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) mới gần đây đã chính thức đưa ra gói nới lỏng định lượng (QE) sau khi hàng loạt những công cụ phi truyền thống được sử dụng trong một thời gian dài nhưng không đem lại hiệu quả mong đợi. Hậu quả nghiêm trọng của khủng hoảng nợ công đối với nền kinh tế lớn thứ hai thế giới vẫn còn kéo dài trong suốt giai đoạn 2010 - 2015. Điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của ECB đã chứng kiến rất nhiều thay đổi mới mang tính đột phá nhằm ngăn chặn và từng bước kết thúc “thập kỷ mất mát”.
Từ khóa: Chính sách, tiền tệ, ngân hàng trung ương, châu Âu, 2010, 2015.

7. Kinh nghiệm quản lý thuế thu nhập cá nhân của một số nước trên thế giới và bài học đối với Việt Nam/ Nguyễn Thị Mai Dung, Nguyễn Thị Huệ// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 12 .- 6/2015 .- Tr. 36
Thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân (TNCN) nói riêng được sử dụng như một công cụ kinh tế hữu hiệu của Nhà nước để điều tiết các hoạt động kinh tế và có vai trò rất quan trọng trong việc phân phối lại thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội. Thuế TNCN ra đời rất lâu trong lịch sử ngành thuế và được coi là loại thuế quan trọng nhất để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội. Thuế TNCN là loại thuế phổ biến trên thế giới và có lịch sử hàng trăm năm nay. Đến nay đã có hơn 180 nước áp dụng thuế TNCN. Trong đó, để áp dụng thuế TNCN được hiệu quả, công tác quản lý thuế TNCN được các quốc gia đặc biệt chú trọng trong đó có Việt Nam. Bởi lẽ, trước đòi hỏi của thực tiễn về một chính sách và cơ chế quản lý thuế đồng bộ, bắt kịp sự phát triển kinh tế, xã hội, việc nghiên cứu quá trình hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế TNCN trở thành nhu cầu cấp thiết.
Từ khóa: Thuế, thuế thu nhập cá nhân, kinh nghiệm, Việt Nam.
 
III. TẠP CHÍ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ SỐ 13 NĂM 2015
1.  Thêm cơ hội cho các tổ chức tín dụng đầu tư vào Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long/ Tôn Thanh Tâm// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 13 .- 7/2015 .- Tr. 17
Vựa lúa Đồng bằng sông Cửu Long hay thủ phủ cà phê Tây Nguyên lâu nay thu hút các TCTD cùng đổ vốn với một mục đích chung là duy trì và phát triển vị thế Việt Nam trên thị trường quốc tế đối với hai sản phẩm chiến lược là cây lúa và cây cà phê. Tuy nhiên, “vốn” và “vay vốn”, hay nói theo cách của ngân hàng là “huy động vốn” và “cho vay” luôn là bài toán khó của cả hai bên: khách hàng và ngân hàng. Vậy đâu là lời giải tốt nhất cho hoạt động này? Bài viết này cung cấp “lời giải” thông qua một dự án mới do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ dành cho các TCTD và người dân tại hai khu vực chiến lược này; Đồng thời, phân tích sự đan xen về một số chính sách mang tính “cởi trói” đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung, cây lúa và cà phê nói riêng vừa mới được Chính phủ ban hành vào ngày 09/6/2015.
Từ khóa: Tín dụng, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, đầu tư

2. Giải pháp thúc đẩy mở rộng tín dụng cho phát triển nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long/  Nguyễn Danh Nam// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 13 .- 7/2015 .- Tr. 20
Tính đến hết năm 2014, tổng dư nợ cho vay các đối tượng khách hàng khác nhau theo chương trình này lên tới khoảng gần 1.700 tỷ đồng, tăng trên 15% so với cuối năm 2013; trong đó dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đạt trên 1.300 tỷ đồng, dư nợ cho vay theo lãi suất tín dụng đầu tư ước tính đạt khoảng hơn 350 tỷ đồng. Ước tính đến hết tháng 6/2015, dư nợ chương trình này đạt gần 2.000 tỷ đồng
Từ khóa: Tín dụng, nông nghiệp, đồng bằng sông Cửu Long.

3. Phát triển an toàn và bền vững hệ thống quỹ tín dụng nhân dân cơ sở/  Nguyễn Đắc Hưng// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 13 .- 7/2015 .- Tr. 22
Trong qúa trình phát triển, ngoài việc không ngừng tăng cường quy mô vốn góp (vốn chủ sở hữu), đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, đầu tư hiện đại hóa công nghệ, thì đội ngũ cán bộ, nhân viên của hệ thống QTDND không ngừng được nâng cao cả về nhận thức trong quản lý hoạt động, cả về chuyên môn nghiệp vụ và quản trị điều hành. Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được kết hợp đồng bộ giữa cán bộ, nhân viên các QTDND chủ động, tự đi học, với việc Quỹ cử đi học các lớp bồi dưỡng và tham gia các khoa tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ.
Từ khóa: Qũy tín dụng nhân dân, phát triển.

4. Lạm phát thấp và những vấn đề đặt ra đối với nền kinh tế/  Phan Thị Hồng Thảo// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 13 .- 7/2015 .- Tr. 24
Ở Việt Nam, tỷ lệ lạm phát ở nhiều năm ở mức cao, hai con số thì năm 2014, tỷ lệ lạm phát chỉ ở mức 1,84% - mức thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây. Theo lý thuyết, khi tỷ lệ lạm phát ở mức vừa phải - 1 con số - có tác động kích thích sự tăng trưởng kinh tế; tuy nhiên nếu nó ở mức quá thấp – đặc biệt dưới mức mục tiêu thì lại gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế. Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích những hậu quả tiêu cực của lạm phát thấp đối với nền kinh tế và đưa ra một số khuyến nghị chính sách.
Từ khóa: Lạm phát, kinh tế, Việt Nam.

5. Giải pháp kiểm soát lạm phát trong dài hạn/ Phạm Hữu Hùng// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 13 .- 7/2015 .- Tr. 26
Từ năm 2011 đến nay, việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) nói riêng và điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ nói chung đã đạt được nhiều thành công như: lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, an sinh xã hội được đảm bảo. Trên cơ sở kiểm soát được lạm phát, NHNN thực hiện việc chống vàng hóa, đô la hóa, từ đó ổn định tỷ giá, giảm mặt bằng lãi suất tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế. Việc kiểm soát lạm phát còn góp phần vào những thành công trong tái cơ cấu nền kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng. Để có thể ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội trong dài hạn thì cần tiếp tục có những giải pháp kiểm soát lạm phát nhằm đảm bảo lạm phát luôn ở mức thấp, từ đó thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Từ khóa: Lạm phát, kiểm soát, ngân hàng.

6. Vay vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ - hướng đi mới của ngân hàng và các doanh nghiệp Việt Nam/ Trần Thị Kim Oanh// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 13 .- 7/2015 .- Tr. 29
Việc các TCTD cho vay có bảo đảm bằng tài sản hữu hình rất phổ biến và được pháp luật thừa nhận. Đây được xem là loại cho vay truyền thống, trong đó, người đi vay cần phải đảm bảo việc trả nợ của mình thông qua hồ sơ chứng minh về tài sản và thế chấp các giấy tờ sở hữu tài sản đó cho TCTD mà họ vay vốn. Trong một giai đoạn khá dài, loại cho vay này đã giải quyết được phần lớn nhu cầu vốn của người đi vay cũng như nhu cầu tăng trưởng tín dụng của các TCTD. Tuy nhiên, còn loại cho vay thứ hai rất phổ biến ở các nước phát triển trên thế giới nhưng còn khá mới mẻ ở Việt Nam, đó là cho vay có bảo đảm bằng tài sản vô hình (tài sản trí tuệ).
Từ khóa: Vay vốn, ngân hàng, doanh nghiệp, Việt Nam.

7. Giải pháp nhằm triển khai có hiệu quả chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển thủy sản/  Võ Thị Hoàng Nhi, Nguyễn Thị Phúc Hậu// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 13 .- 7/2015 .- Tr. 31
Trong thời gian qua, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng với mục tiêu nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, trong đó dành nhiều sự quan tâm đến việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của ngư dân, Chính phủ đã ban hành và phê duyệt nhiều chính sách hỗ trợ ngư dân, trong đó có các chính sách tập trung hỗ trợ về nguồn vốn tín dụng để giúp ngư dân phát triển kinh tế biển, vùng ven biển, nâng cao đời sống kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Từ khóa: Tín dụng, ngân hàng, thủy sản.

8. Hoạt động của hệ thống  bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa: bài học từ kinh nghiệm các nước/ Hà Văn Dương// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 13 .- 7/2015 .- Tr. 33
Quỹ bảo lãnh tín dụng (BLTD) không phải là tổ chức duy nhất tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tiếp cận tài chính. Tại nhiều nước trên thế giới, hệ thống BLTD phát triển và đem lại những thành công từ sự đa dạng theo các hướng: (i) Đa dạng loại hình tổ chức BLTD, (ii) đa dạng hình thức sở hữu vốn (iii), đa dạng mục tiêu, (iv) đa dạng ngành và lĩnh vực BLTD, (v) đa dạng loại hình BLTD... Tại Việt Nam, hệ thống BLTD bao gồm các Quỹ BLTD tại các địa phương và Ngân hàng phát triển Việt Nam (NHPT) đã hình thành và đi vào hoạt động từ nhiều năm qua.
Từ khóa: Tín dụng, doanh nghiệp vừa và nhỏ, Việt Nam.

IV. TẠP CHÍ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ SỐ 14 NĂM 2015
1. Một vài nét về việc sử dụng nguồn vốn Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam/ Nguyễn Phi Mai// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 14 .- 7/2015 .- Tr. 18
Thông qua các hoạt động của mình, BHTGVN góp phần củng cố niềm tin của công chúng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hàng chục triệu người gửi tiền (Số lượng người gửi tiền được bảo hiểm ngày càng được bảo vệ nhiều hơn: năm 2007: 9,5 triệu người; 2008: 12,7 triệu người; 2009: 14,7 triệu người; 2010: 20,2 triệu người; 2011: 26,2 triệu người; 2012: 28,8 triệu người; 2013: 30,3 triệu người; 2014: trên 30 triệu người.)
Từ khóa: Vốn, bảo hiểm, tiền, Việt Nam.

2. Định hướng phát triển dịch vụ ngân hàng quốc tế tại các NHTM Việt Nam/  Huỳnh Thị Hương Thảo// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 14 .- 7/2015 .- Tr. 20
Hội nhập kinh tế quốc tế là điều kiện thuận lợi để đưa quốc gia phát triển, nhưng bên cạnh đó cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh tế trở nên gay gắt hơn, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Các ngân hàng nước ngoài có nhiều lợi thế hơn các NHTM Việt Nam về vốn, công nghệ, trình độ quản lý và đặc biệt là cung ứng những sản phẩm dịch vụ ngân hàng quốc tế hoàn hảo. Do đó, khi tham gia hoạt động kinh doanh tại thị trường Việt Nam, các ngân hàng nước ngoài sẽ phát huy những sản phẩm dịch vụ này.
Từ khóa: Ngân hàng thương mại, Việt Nam, dịch vụ, phát triển.

3. Sức ép hội nhập từ cộng đồng kinh tế asean và động lực tạo lập vị thế của Việt Nam/ Nguyễn Thị Minh Chi// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 14 .- 7/2015 .- Tr. 24
Về thể chế, ASEAN cần hoàn thiện các thể chế ở cả cấp độ quốc gia, khu vực và đẩy mạnh hợp tác với các vấn đề liên quan đến chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng... Hiện tại, AEC vẫn là một thể chế còn lỏng lẻo, chưa có cơ quan giải quyết tranh chấp ra các quyết định có tính chất bắt buộc đối với các nước thành viên, cho nên trước mắt ASEAN cần củng cố cơ chế thực thi và giải quyết các tranh chấp thương mại nhằm tăng tính cưỡng chế cho các cam kết trong các hiệp định kinh tế khu vực, các nội dung cần thêm vào AEC như hoàn toàn tự do hóa lĩnh vực dịch vụ; xây dựng một cơ chế cho phép mọi đối tượng lao động được tự do di chuyển; tự do hóa hoàn toàn lĩnh vực tài chính và phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô.
Từ khóa: Kinh tế, Asean, Việt Nam.

4. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tạo nguồn của các tổ chức hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam/  Võ Thị Hoàng Nhi, Nguyễn Trung Thành// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 14 .- 7/2015 .- Tr. 28
Tổ chức tài chính vi mô (TCVM) ở Việt Nam đã có nhiều đóng góp trong việc nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho người nghèo và thu nhập thấp, từ đó mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho hàng triệu hộ gia đình, góp phần thực hiện tốt công cuộc giảm nghèo và phát triển kinh tế đất nước.  Tuy nhiên,  hiện nay vẫn còn  những vướng mắc cần tháo gỡ, đặc biệt trong cơ chế tạo nguồn để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức này. Trong phạm vi bài viết, tác giả sẽ phân tích và đưa ra các kiến nghị giải pháp để giải quyết vấn đề này.
Từ khóa: Tài chính, kinh tế vi mô, Việt Nam.

5. Giải pháp thu hút FDI vào các khu công nghiệp ở nước ta hiện nay/ Đỗ Văn Hai// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 14 .- 7/2015 .- Tr. 31
Trải qua hơn 20 năm (từ năm 1991) xây dựng và phát triển, đến nay, cả nước có 295 khu công nghiệp (KCN) với tổng diện tích 84.000 ha; trong đó, có 212 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên là 60.000 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy là 65%. Các KCN là một “kênh” quan trọng thu hút các nguồn vốn đầu tư phát triển trong và ngoài nước, đặc biệt, có sức hút lớn đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Từ khóa: FDI, khu công nghiệp, Việt Nam.

6. Mô hình tổ chức hợp tác xã tài chính của một số quốc gia/  Nguyễn Quốc Nghi// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 14 .- 7/2015 .- Tr. 33
Là quốc gia lớn nhất ở Nam Mỹ, Brazil có mức thu nhập trung bình nhưng sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp ở đất nước này rất lớn. Lĩnh vực ngân hàng ở Brazil khá phát triển tuy nhiên chỉ có 1/3 người Brazil có tài khoản ngân hàng, đa số người dân khu vực nông thôn lại gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính. Có mặt tại Brazil trong những năm 1980, HTXTC chỉ chiếm 6% thị trường tài chính nông thôn nhưng phục vụ hơn 1/4 dân số khu vực này và đang phát triển nhanh chóng, đặc biệt đối với người dân nghèo Brazil không có khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính từ ngân hàng.
Từ khóa: Tài chính, kinh tế, hợp tác xã, thế giới.

7. Phát triển dịch vụ phi tín dụng tại một số quốc gia và những bài học kinh nghiệm/ Nguyễn Thị Thúy// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 14 .- 7/2015 .- Tr. 37
Phát triển dịch vụ phi tín dụng (DVPTD) sẽ thúc đẩy ngân hàng (NH) cải tiến và đầu tư để nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hóa các DV, phát triển thêm các DV mới nhằm thỏa mãn nhu cầu của nhóm KH từ đó nâng cao vị thế của chính NH cũng như tăng doanh thu và lợi nhuận. Ngoài ra, hoạt động DVPTD cũng tạo điều kiện cho NH phân tán rủi ro cũng như góp phần mở rộng quy mô và mạng lưới, tăng cường quảng bá thương hiệu NH trên thị trường.
Từ khóa: Phi tín dụng, ngân hàng, kinh nghiệm.

8. Ngân hàng Trung ương và hoạt động điều tiết các ngân hàng thương mại/  Lê Thị Khương// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 14 .- 7/2015 .- Tr. 41
Rõ ràng hoạt động điều tiết ngân hàng là không thể thiếu và ngay trong thời gian vừa qua chúng ta đều nhận thấy vai trò của NHTW các nước như thế nào trong việc giải cứu hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên hậu quả đã xảy ra trên thế giới không thể không nói đến lỗi của NHTW, dẫu biết rằng khủng hoảng được bắt nguồn từ nơi mà các hệ thống pháp luật chặt chẽ nhất. Tuy nhiên quá trình giãn điều tiết (Deregulation) đã tạo ra sự “thoải mái” trong kinh doanh ngân hàng và đó là nguyên nhân cho cuộc khủng hoảng.
Từ khóa: Ngân hàng trung ương, ngân hàng thương mại, quản lý.
Trung tâm Thông tin - Thư viện
 
♦ Ý kiến của bạn
Chia sẻ :

Địa chỉ: Số 36 - Đường Dân Lập - Phường Dư Hàng Kênh - Quận Lê Chân - TP Hải Phòng
Điện thoại: 0225 3740577 - 0225 3833802 -- Fax: 0225.3740476 Email: webmaster@hpu.edu.vn