TIN TỨC HPU

  Thứ hai, 02/03/2015 - 09:09:02

Bài trích Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam số 1 năm 2015

Xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam số 1 năm 2015 tại Phòng Đọc tầng 5 nhà G - Trung tâm Thông tin Thư viện - Trường Đại học Dân lập Hải Phòng
1.     Phương pháp phân tích phiếm hàm trong lý thuyết lượng tử về plasmon/ Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Bích Hà, Nguyễn Văn Hợp// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 1/2015 .- Tr. 1-8
Trong bài báo này lý thuyết lượng tử về plasmon đã được xây dựng trên cơ sở những nguyên lý và định luật cơ bản của vật lý học lượng tử được áp dụng vào trường hợp khí điện tử linh hoạt trong kim loại và bằng phương pháp tích phân phiếm hàm. Nhờ sử dụng biến đổi Hubbard-Stratonnovich nổi tiếng, từ phiếm hàm sinh của hệ khí điện tử suy ra phiếm hàm sinh của một trường vô hướng mà các toán tử hủy hạt và sinh hạt của trường nayfchinhs là toán tử hủy và sinh plasmon. Trong trường hợp khí điện tử linh hoạt trong kim loại đồng chất có kích thước không giới hạn và ở nhiệt độ T=0 Lagrangian của trường lượng tử vô hướng diễn tả các plasmon có dạng giống như Lagrangian của trường lượng tử vô hướng tương đối tính thỏa mãn phương trình Klein-Gordon. Phương pháp lập luận và tính toán có thể được mở rộng ra cho các hệ điện tử linh hoạt trong các cấu trúc kim loại kích thước nano.
Từ khóa: khí điện tử, kích thước, tập thể, phiếm hàm sinh, plasmon.
 
2.     Tính chất từ, hiệu ứng từ nhiệt và các tham số tới hạn của các băng hợp kim Ni50­Mn50-xSb/ Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Hải Yến, Phạm Thị Thanh…// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 1/2015 .- Tr. 9-12
Hệ hợp kim Ni50­Mn50-xSbx (x=11, 12, 13, 14 và 15) dạng băng được chế tạo bằng phương pháp nguội nhanh. Sau đó, một phần băng đã được ủ nhiệt ở các chế độ khác nhau. Kết quả phân tích giản đồ nhiễu xạ tia X cho thấy các mẫu với x=13, 14 và 15 có cấu trúc đơn pha Ni2 MnSb. Dáng điệu của các đường từ nhiệt phụ thuộc mạnh vào nồng độ Sb và chế độ ủ. Chuyển pha phản sắt từ - sắt từ rõ nét ở các mẫu với x=12÷14. Trong biến thiên từ trường là 12 kOe, giá trị biến thiên entropy từ cực đại của mẫu có x=13 đạt 1,02 J.kg-1.K-1. Các tham số tới hạn của mẫu được xác định dựa trên phương pháp Arrott-Noakes.
Từ khóa: tham số tới hạn, hợp kim Heusler, làm lạnh, từ trường, từ nhiệt.
 
3.     Đánh giá độ nguy hiểm động đất lưu vực sông Cả - Rào Nậy/ Cao Đình Triều, Lê Văn Dũng, Cao Đình Trọng…// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 1/2015 .- Tr.13-20
Trong khuôn khổ bài báo này, tác giả sử dụng đồng thời 2 tiếp cận: thống kê và tất định mới trong tính toán độ nguy hiểm động đất lưu vực sông Cả - Rào Nậy. Kết quả cho thấy: Theo hướng tiếp cận thống kê thì khu vực Tĩnh Gia (Thanh Hóa); Thanh Chương, Nam Đàn (Nghệ An); Hương Sơn (Hà Tĩnh) là nơi có gia tốc dao động nền lớn nhất đối với các chu kỳ lặp lại động đất: 50 năm (190 cm/s2); 100 năm (220 cm/s2); 200 năm (260 cm/s2); 500 năm (280 cm/s2); 1000 năm (300 cm/s2); 5000 năm (380 cm/s2) và 10.000 năm (400 cm/s2). Trong khi đó, theo tiếp cận tất định mới cho thấy, khu vực Tương Dương và Hòa Bình (Nghệ An) có giá trị dịch chuyển ngang cực đại (Vmax) nằm trong khoảng  12÷28 cm/s và gia tốc dao động nền cực đại (Amax) thay đổi từ 120÷280 cm/s2. Trong điều kiện số liệu động đất quan sát còn kém đầy đủ thì việc kết hợp đồng thời cả hai cách tiếp cận: thống kê và tất định mới sẽ góp phần nâng cao hiệu quả nghiên cứu đánh giá, dự báo độ nguy hiểm động đất lưu vực sông Cả - Rào Nậy.
Từ khóa: động đất, sông Cả - Rào Nậy, tiếp cận, thống kê.
 
4.     Một số kết quả nghiên cứu nguồn nước nóng Bang, tỉnh Quảng Bình/ Đoàn Văn Tuyến, Đinh Văn Toàn, Trần Anh Vũ… // Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 1/2015 .- Tr. 21-25
Bài báo trình bày kết quả lần đầu tiên ở Việt Nam áp dụng tổ hợp các phương pháp đại chất, địa hóa học, địa vật lý đã xác định được vị trí phân bổ và các chỉ thị của mô hình hệ thủy địa nhiệt nguồn gốc magma điển hình ở khu vực nguồn nước nóng Bang thuộc tỉnh Quảng Bình. Nhiệt độ bồn nhiệt xác định được từ các địa nhiệt kế hóa học cho giá trị trong khoảng 167-21oC, bề mặt bồn nhiệt đạt 200oC ở độ saau 3 km. Kết quả nghiên cứu cho phép lựa chọn vị trí thích hợp để triển khai bước tiếp theo khoan thăm dò bồn địa nhiệt.
Từ khóa: bồn, chu trình kép, địa nhiệt, địa nhiệt kế hóa học, magma, nguồn nước nóng Bang, thủy địa nhiệt, từ telua, Quảng Bình.
 
5.     Tổng quan về kỹ thuật yếm khí cao tải trong xử lý nước thải/ Trần Mạnh Hải, Nguyễn Hoài Châu, Nguyễn Triều Dương…// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 1/2015 .- Tr. 26-31
Xử lý yếm khí (YK) là công nghệ lâu đời, gần đây khi biogas được coi là nguồn năng lượng tái tạo, nó trở nên hấp dẫn và được quan tâm phát triển. Theo Lettinga (13) phương pháp này có nhược điểm là tốc độ sinh trưởng vi khuẩn YK thấp, tuy nhiên những kỹ thuật hiện đại đã khắc phục được hạn chế này. Các kỹ thuật yếm khí ngày nay chấp nhận tải lượng từ hàng chục tới trên 100 kg COD/m3/ngày với hiệu suất thường là 70-90% [11,12]. Nghiên cứu [4] cho thấy, khi BOD nước thải vượt 1000 mg/l thì hệ YK (hệ UASB – Upflow Anaerobic Sludge Blanket) kinh tế hơn hiếm khí (bùn hoạt tính) cả về mặt xây dựng cơ bản lẫn phí vận hành, bảo trì. Cũng theo [4], có ba nhóm kỹ thuật YK: (1) hệ phản ứng với vi sinh phân tán; (2) hệ vi sinh cố định trên vật liệu mang và (3), áp dụng từ năm 1980 sử dụng vi sinh dạng hạt có mật độ rất cao (tới 80-100 g/l). Theo [11], kỹ thuật YK hiện đại bắt đầu từ bồn khuấy trộn hoàn toàn, bồn tiếp xúc, bước ngoặt là hệ UASB, đỉnh cao là các kỹ thuật tiếp xúc và tách vi sinh rất tốt, đó là EGSB (Expanded Granular Sludge Bed), IC (Unternal Circulation). Nếu coi kỹ thuật bồn phản ứng khuấy trộn hoàn toàn có năng suất xử lý so sánh trên đơn vị thể tích là 1 thì bồn tiếp xúc là 5, UASB là 25 và EGSB, IC là 75. Bài viết này tóm tắt sự phát triển của công nghệ xử lý YK, tập trung vào hệ thống xử lý YK cao tải UASB, EGSB, IC.
Từ khóa: EGSB, IC, UASB, yếm khí cao tải.
 
6.     Ứng dụng phương pháp lọc từ tính để tách kim loại nặng trong nước thải công nghiệp/ Lê Phước Cường, Lê Thị Xuân Thùy, Nguyễn Thành Trung// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 1/2015 .- Tr. 32-35
Trong nghiên cứu này các tác giả tiến hành đánh giá khả năng hấp phụ các kim loại nặng như Cd, Cr, và Pb bằng hạt từ tính PG-M. Nghiên cứu tập trung khảo sát ảnh hưởng của yếu tố pH, thời gian hấp phụ và liều lượng PG-M đến hiệu suất hấp phụ của PG-M; xác định các giá trị tối ưu để xây dựng và vận hành mô hình lọc từ tính xử lý kim loại nặng trong nước. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, hạt từ tính có khả năng hấp phụ kim loại nặng rất tốt, sử dụng hạt PG-M làm vật liệu hấp phụ trong mô hình lọc từ tính cho hiệu suất xử lý cao, đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật và các quy định hiện hành. Nghiên cứu đã xây dựng được mô hình lọc từ tính sử dụng vật liệu hấp phụ hạt PG-M để tách kim loại nặng trong nước thải tại Công ty cổ phần cơ khí mạ Đà Nẵng - Khu công nghiệp Hòa Khánh đạt hiệu suất cao.
Từ khóa: hấp phụ, hiệu suất, kim loại nặng, lọc từ tính, PG-M.
 
7.     Giải pháp nâng cao trữ lượng khai thác nước dưới đất vùng ven sông Hồng ở Đồng bằng Bắc Bộ/ Nguyễn Minh Lân, Phạm Bá Quyền, Đào Văn Dũng…// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 1/2015 .- Tr. 36-42
Vùng ven sông Hồng từ đỉnh Đồng bằng Bắc Bộ đến khoảng hết khu vực nội thành của thành phố Hà Nội có cấu trúc hở, liên tục tồn tại cửa sổ địa chất thủy văn. Ở đó, nước của các tầng Holocen (qh) và Pleistocen (qp) và sông Hồng có quan hệ thủy lực rất chặt chẽ. Nếu tận dụng tất cả diện tích ven hai bờ sông và các cồn nổi giữa sông ở vùng cấu trúc hở để xây dựng các công trình khai thác nước có thể đạt được trữ lượng khai thác 2.517.300 m3/ng, kể cả các công trình khai thác đang hoạt động. Nếu kết hợp điều chỉnh một cách hợp lý vị trí các công trình khai thác ven sông đang hoạt động có thể nâng trữ lượng khai thác đến 3.506.400 m3/ng. Để có được trữ lượng khai thác lớn nêu trên, cần có các biện pháp kỹ thuật thi công giếng khoan phù hợp như khoan tuần hoàn ngược, khoan thổi rửa ngược, kết cấu giếng khoan đảm bảo khai thác lưu lượng lớn. Xây dựng các công trình khai thác ven sông Hồng và cồn nổi cần có các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ công trình khai thác nước trong điều kiện ngập lụt và xói lở xảy ra thường xuyên, đồng thời cũng cần đánh giá tác động của việc khai thác nước dưới đất đến môi trường và các công trình xây dựng.
Từ khóa: Đồng bằng Bắc Bộ, nước, khai thác, vùng ven sông.
 
8.     Nghiên cứu ảnh hưởng của các kịch bản phát triển thượng lưu đến thay đổi dòng chảy, môi trường và kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long/ Tô Quang Toản, Tăng Đức Thắng// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 1/2015 .- Tr. 43-51
Lưu vực sông Mê Công có diện tích khoảng 795.000 km2, chảy qua địa phận của 6 quốc gia: Trung Quốc, Myanma, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam với chiều dài dòng chính là 4.800 km, tổng lượng dòng chảy hàng năm vào khoảng 450 tỷ m3. Sông Mê Công xếp thứ 21 trên thế giới về diện tích lưu vực, thứ 12 về chiều dài và thứ 8 về tổng lượng dòng chảy. Sông có mức độ đa dạng sinh học cao với khoảng 1.300 loài thủy sản, sản lượng cá hàng năm đứng thứ 2 trên thế giới, lưu vực sông là nơi cung cấp lương thực cho khoảng 300 triệu người. Sông có tiềm năng thủy điện cao, vào khoảng 53.000 MV, trong đó 23.000 MV ở thượng lưu thuộc Trung Quốc, 13.000 MV ở dòng chính phía hạ lưu và hơn 17.000 MV là thủy điện dòng nhánh ở các nước hạ lưu vực. Các kịch bản phát triển nông nghiệp và thủy điện ở thượng lưu nói chung và kế hoạch xây dựng 12 đập thủy điện trên dòng chính nói riêng có thể gây tác động bất lợi đến chế độ dòng chảy, chất lượng nước, đa dạng sinh học và ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của hàng chục người dân phía hạ lưu. Bài báo trình bày một số kết quả đánh giá tác động có thể của các kịch bản phát triển thượng lưu đến thay đổi chế độ dòng chảy, môi trường và kinh tế - xã hội ở Đồng bằng sông Cửu Long để thấy được mặt lợi cũng như bất lợi đối với vùng đồng bằng châu thổ trong tương lai để chủ động các giải pháp ứng phó.
Từ khóa: ĐBSCL, môi trường, thượng lưu, sông Mê Công, thủy điện.
 
9.     Nghiên cứu tổng hợp và đánh giá tính chất vật liệu xúc tác hợp kim có kích thước nanô PtNi/C cho phản ứng khử ôxy trong pin nhiên liệu màng trao đổi proton/ Đỗ Chí Linh, Phạm Thy San, Nguyễn Ngọc Phong… // Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 1/2015 .- Tr. 52-56
Trong nghiên cứu này, các hạt xúc tác hợp kim kích thước nanô PtNi trên vật liệu nền cacbon Vulcan XC-72 đã được tổng hợp bằng phương pháp kết tủa hóa học sử dụng chất khử NaBH4. Các tính chất của vật liệu xúc tác hợp kim đã được nghiên cứu và đánh giá. Các kết quả hiển vi điện tử truyền qua (TEM) đã chỉ ra rằng, các hạt xúc tác PtNi với kích thước 4-8 nm phân bố đều trên vật liệu nền các bon. Các kết quả phân tích nhiễu xạ tia X (XRD) đã xác nhận mạng tinh thể của các hạt kim loại tinh khiết Pt và hợp kim PtNi là lập phương tâm mặt. Khi có mặt kim loại Ni, mạng tinh thể của hợp kim PtNi bị co lại và ảnh hưởng lên tính chất của vật liệu xúc tác. Hoạt tính xúc tác được đánh giá bằng các phương pháp điện hóa: quét thế vòng (CV – cyclic voltammetry) và quét thế tuyến tính (LSV – linear sweep voltammetry). Các kết quả thu được chỉ ra rằng, hoạt tính xúc tác của hợp kim PtNi/C cho phản ứng khử ooxxy tại điện cực catốt của pin nhiên liệu màng trao đổi proton PEMFC cao hơn so với xúc tác Pt/C.
Từ khóa: chất xúc tác, hợp kim, ORR, PEMFC, tế bào nhiên liệu.
 
10.   Nghiên cứu và phát triển cảm biến sinh học tại Việt Nam: hiện trạng và triển vọng/ Nguyễn Lê Huy, Nguyễn Hải Bình, Nguyễn Vân Anh, Trần Đại Lâm// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 1/2015 .- Tr. 57-64
      Với sự tiến bộ gần đây của công nghệ micro-nano, cảm biến sinh học đã giao thoa với công nghệ nano và tạo ra một lĩnh vực mới là cảm biến nano sinh học (cảm biến sinh học ở kích thước nano). Ngày nay, cảm biến nano sinh học đã thâm nhập vào các lĩnh vực ứng dụng y tế, sinh học và môi trường. Trong bối cảnh đó, các nghiên cứu, chế tạo cảm biến sinh học đã và đang được các nhà khoa học trong nước triển khai và dần tạo lập được các  tập thể nghiên cứu nhiều triển vọng. Tuy nhiên, việc biến các tiềm năng trở thành những sản phẩm công nghệ hữu ích đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng nghỉ của các nhà khoa học và cả sự hỗ trợ mạnh mẽ của cơ quan quản lý. Bài viết trình bày một cách tổng quát về cảm biến sinh học, hiện trạng và triển vọng trong nghiên cứu và phát triển lĩnh vực này.
      Từ khóa: cảm biến sinh học, công nghệ nano, Việt Nam.
Trung tâm Thông tin Thư viện
♦ Ý kiến của bạn
Chia sẻ :

Địa chỉ: Số 36 - Đường Dân Lập - Phường Dư Hàng Kênh - Quận Lê Chân - TP Hải Phòng
Điện thoại: 0225 3740577 - 0225 3833802 -- Fax: 0225.3740476 Email: webmaster@hpu.edu.vn