TIN TỨC HPU

  Thứ ba, 25/11/2014 - 07:42:40

Bài trích Tạp chí Kinh tế và phát triển số 209 năm 2014

Xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc Tạp chí Kinh tế và phát triển số 209 năm 2014 tại Phòng Đọc tầng 5 nhà G - Trung tâm Thông tin Thư viện - Trường Đại học Dân lập Hải Phòng

 


 

1. Nâng cao chất lượng tạp chí Kinh tế và Phát triển theo hướng hội nhập quốc tế/ Lê Quốc Hội, Nguyễn Thị Tuyết Mai// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 209/2014 .-Tr. 3-13
Dựa trên những tiêu chí đánh giá tạp chí khoa học, bài viết này sử dụng dữ liệu thứ cấp và dữ liệu thu được qua khảo sát để phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động của Tạp chí Kinh tế và Phát triển qua 20 năm xây dựng và phát triển. Kết quả phân tích chỉ rõ những thành tựu mà Tạp chí đã đạt được trên con đường đổi mới theo hướng hội nhập quốc tế. Cụ thể, chính sách của Tạp chí đã được xây dựng ngày càng hoàn thiện và tương hợp theo chuẩn quốc tế; tính đa dạng và tính quốc tế của Hội đồng biên tập ngày càng tăng; chất lượng bài viết trên Tạp chí có những bước tiến rõ rệt; qui trình phản biện và chất lượng các ý kiến phản biện được đánh giá tương đối cao; công tác biên tập và xuất bản ngày càng được cải thiện; trang web của Tạp chí được đánh giá tốt. Tuy nhiên, việc phát triển Trường Đại học Kinh tế Quốc thành trường đại học định hướng nghiên cứu đặt ra yêu cầu phải tiếp tục nâng tầm Tạp chí. Bài viết cũng đề xuất một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng Tạp chí theo hướng hội nhập quốc tế.
Từ khóa: Hội nhập, quốc tế, chất lượng, tạp chí.
 
2. Gắn kết mục tiêu phát triển bền vững trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa ở Việt Nam/ Ngô Thắng Lợi, Vũ Thành Hưởng//Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 209/2014 .- Tr. 14-23
Bài viết dựa trên một số kết quả nghiên cứu chính của đề tài cấp nhà nước KX04.11/11-15 (Ngô Thắng Lợi, 2012) đang được triển khai “Phát triển bền vững của Việt Nam trong bối cảnh mới của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và biến đổi khí hậu” (thuộc chương trình cấp nhà nước KX 04/11-15 của Hội đồng Lý luận Trung ương, trường Đại học Kinh tế Quốc dân là cơ quan chủ trì thực hiện ). Nội dung bài viết đi sâu vào đánh giá khía cạnh phát triển bền vững được đưa ra và thực hiện trong mô hình công nghiệp hóa ở Việt Nam như thế nào, bao gồm từ quá trình phát triển nhận thức của Đảng về gắn công nghiệp hóa với phát triển bền vững, đến những vấn đề đặt ra về gắn phát triển bền vững trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa và cuối cùng, bài viết đưa ra một số kiến nghị chính nhằm gắn phát triển bền vững trong quá trình tiếp tục thực hiện công nghiệp hóa trong các điều kiện mới của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Từ khóa: Phát triển bền vững, công nghiệp hóa, ô nhiễm, môi trường, biến đổi khí hậu, Việt Nam.
 
3. Lại bàn về chế độ sở hữu, thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam/ Mai Ngọc Cường//Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 209/2014 .- Tr. 24-31
Từ kết quả nghiên cứu của chuyên đề “Tư duy mới về sở hữu và thành phần kinh tế” thuộc đề tài cấp nhà nước KX01.12/11-15 “Tư duy mới về phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong bối cảnh mới”, bài báo khái quát thành công và những bất cập trong quá trình đổi mới tư duy về chế độ sở hữu, thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp ở nước ta từ 1986 đến nay. Trên cơ sở đó đề xuất ba vấn đề: (i) nền kinh tế nước ta có hai chế độ sở hữu là công hữu và tư hữu, với nhiều hình thức sở hữu khác nhau; (ii) trong nền kinh tế tồn tại ba thành phần là kinh tế các doanh nghiệp nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; (iii) Doanh nghiệp nhà nước có chức năng tạo ra hiệu quả kinh tế - xã hội, đóng vai trò mở đường cho sự phát triển cho các doanh nghiệp khác; Doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn FDI có chức năng tạo ra hiệu quả kinh tế thuần cho nền kinh tế, thực hiện vai trò động lực phát triển kinh tế.
Từ khóa: Sở hữu,kinh tế, doanh nghiệp, Việt Nam
 
4. Tái cơ cấu công nghiệp: Chuyển từ nền công nghiệp gia công sang nền công nghiệp chế tạo/ Nguyễn Kế Tuấn// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 209/2014 .- Tr. 32-41
Trong những năm qua, bên cạnh những đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, sự phát triển công nghiệp ở Việt Nam cũng bộc lộ ngày càng rõ những yếu kém về năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh. Biểu hiện tập trung nhất của tình trạng này là nền công nghiệp còn mang nặng tính chất gia công/lắp ráp với giá trị gia tăng thấp và lệ thuộc vào nước ngoài. Chuyển công nghiệp từ tình trạng này thành nền công nghiệp chế tạo, thực hiện các khâu phức tạp có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu là một trong những nội dung trọng yếu của tái cơ cấu công nghiệp. Từ phân tích vị trí của hoạt động gia công/lắp ráp trong chuỗi giá trị toàn cầu, bài báo đã phân tích làm rõ tính chất gia công/lắp ráp của nền công nghiệp Việt Nam và những hệ lụy của phát triển công nghiệp theo kiểu này. Từ đó, bài báo tập trung trình bày hai khuyến nghị cơ bản để thúc đẩy chuyển từ nền công nghiệp mang nặng tính chất gia công/lắp ráp sang nền công nghiệp chế tạo có giá trị gia tăng cao. Đó là: xác định rõ yêu cầu và nội dung của tái cơ cấu ngành công nghiệp trong khuôn khổ tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng; thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ.
Từ khóa: Chuỗi giá trị, gia công, lắp ráp; chế tạo, giá trị gia tăng; tái cơ cấu; mô hình, công nghiệp hỗ trợ.
 
5. Tư duy mới về hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam trong bối cảnh mới/ Đỗ Đức Bình// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 209/2014 .- Tr. 42-50
Trong gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã và đang tiếp tục hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế các quốc gia trong khu vực và toàn cầu. Trong những năm tới kể từ năm 2015, trước những bối cảnh, điều kiện mới của quốc tế và trong nước, đòi hỏi phải có tư duy mới về hội nhập kinh tế quốc tế. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX.01.12/11-15 “Tư duy mới về phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong bối cảnh mới”, thuộc chương trình KX.01/11-15, bài viết sẽ đi vào nghiên cứu các vấn đề sau: (i) Khái quát quá trình đổi mới tư duy về hội nhập của Việt Nam; (ii) Hạn chế, bất cập và nguyên nhân hạn chế trong tư duy, nhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế; (iii) Những bối cảnh mới của quốc tế và trong nước tác động đến hội nhập kinh tế quốc tế và (iv) Gợi ý một số giải pháp đột phá tạo ra tư duy mới về hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh mới.
Từ khóa: Hội nhập, bối cảnh, tư duy, Việt Nam, kinh tế.
 
6. Diễn biến tăng trưởng và khả năng hoàn thành mục tiêu năm 2014/ Trần Thọ Đạt, Hà Quỳnh Hoa// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 209/2014 .- Tr. 51-59
Kinh tế vĩ mô Việt Nam sau 9 tháng năm 2014 tiếp tục có những tín hiệu khả quan. Theo các chuyên gia kinh tế tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu, tỷ lệ lạm phát năm 2014 dự kiến đạt 4,5% thấp hơn nhiều so với mục tiêu 7% của Chính phủ, trong khi đó việc đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế 5,8% còn đang có nhiều ý kiến khác nhau. Bài viết này tổng quan diễn biến tăng trưởng kinh tế 9 tháng và đánh giá khả năng hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2014 dựa trên cơ sở nhìn nhận và phân tích các biến số phản ánh sự biến động của các thành tố thuộc về tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế, cũng như việc thực thi hai chính sách cơ bản là chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong thời gian qua. Kết quả phân tích cho thấy tín hiệu phục hồi kinh tế đã tiếp tục thể hiện rõ: Tổng mức bán lẻ 9 tháng tăng 11,1% so với cùng kỳ 2013; Cán cân thương mại thặng dư gần 2,5 tỷ USD; FDI giải ngân tăng 3,2% so với cùng kỳ năm 2013; Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,6% so với cùng kỳ; Chỉ số PMI tăng trở lại sau 3 tháng suy giảm; Cung tiền và tín dụng tăng cao hơn cùng kỳ năm 2013; Bội chi ngân sách nhà nước đạt ở mức 68,3% dự toán năm… Sự cải thiện về cả phía tổng cầu lẫn tổng cung trong bối cảnh lạm phát thấp có thể cho phép Chính phủ thực hiện nới lỏng hơn nữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2014 đạt và vượt kế hoạch đặt ra.
Từ khóa: Tăng trưởng, tổng cầu, tổng cung, cung tiền, chi tiêu, chính phủ, 2014
 
7. Ảnh hưởng của giáo dục tới sự tham gia lao động ở Việt Nam/ Lê Quang Cảnh, Nguyễn Văn Đại// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 209/2014 .- Tr. 60-68
Giáo dục vừa là động lực vừa là mục tiêu của phát triển, là yếu tố quyết định tới sự tham gia lao động của cá nhân trên thị trường lao động. Nghiên cứu thực nghiệm này, sử dụng phương pháp ước lượng hai giai đoạn (2SLS) trên số liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2012, đo lường tác động của giáo dục tới xác suất tham gia vào lực lượng lao động và cung lao động ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy giáo dục cao hơn sẽ làm giảm xác suất tham gia lực lượng lao động và làm tăng cung lao động của lao động Việt Nam. Ảnh hưởng này có sự khác biệt giữa lao động nam và nữ, giữa lao động thành thị và nông thôn, và giữa lao động thuộc hộ nghèo và không nghèo. Kết quả nghiên cứu cung cấp dẫn chứng thực nghiệm, đề xuất chính sách làm tăng sự tham gia lao động của các nhân ở Việt Nam.
Từ khóa: lao động, giáo dục, tác động, Việt Nam
 
8. Thâm hụt thương mại: Phân tích từ cách tiếp cận liên thời kỳ/ Tô Trung Thành// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 209/2014 .- Tr. 69-81
Bài viết sẽ nghiên cứu nguyên nhân thâm hụt thương mại của Việt Nam từ cách tiếp cận liên thời kỳ, theo đó, biến động cán cân thương mại là hệ quả của các quyết định tiêu dùng và đầu tư trong dài hạn đặt dưới những kỳ vọng tương lai. Kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập tương đối, NFA, độ sâu tài chính, tỷ giá, FDI và độ mở của nền kinh tế đều có tác động đến thâm hụt thương mại trong giai đoạn nghiên cứu. Bài viết đưa ra khuyến nghị thay đổi mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế, đồng thời bổ trợ thêm với một số chính sách liên quan đến FDI và chính sách tỷ giá để giải quyết được vấn đề thâm hụt thương mại tại Việt Nam một cách bền vững.
Từ khóa: tiếp cận, thương mại, Việt Nam
 
9. Nghiên cứu các yếu tố kinh tế và thể chế ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam/ Đặng Hữu Mẫn, Hoàng Dương Việt Anh// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 209/2014 .- Tr. 82-94
Bài báo này cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự tác động của các nhóm nhân tố kinh tế và thể chế đến hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu sử dụng mô hình DPDA cho thấy tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán/tổng sản phẩm quốc nội có mối tương quan “dương” với lợi nhuận ngân hàng. Theo đó, nếu lạm phát tăng trong tỷ lệ “dự báo” và tốc độ vốn hóa thị trường chứng khoán tăng lên sẽ kích thích lợi nhuận ngân hàng. Ngược lại, trong giai đoạn 2003-2012 ở Việt Nam, tăng trưởng kinh tế và lợi nhuận ngân hàng đôi khi không đi liền với nhau; đồng thời, các ngân hàng có xu hướng gia tăng lợi nhuận khi mức độ ổn định của hệ thống ngân hàng tương đối thấp. Cuối cùng, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chất lượng môi trường thể chế có ảnh hưởng lớn đến hoạt động ngân hàng. Cụ thể, một bộ máy chính quyền hoạt động hiệu quả ở các cấp với chất lượng điều tiết các chính sách ngày càng cao và tồn tại trong một môi trường chính trị ổn định là tiền đề quan trọng góp phần kích thích hoạt động ngân hàng.
Từ khóa: Ngân hàng thương mại, Việt Nam, lợi nhuận, kinh tế vĩ mô, Nhân tố, thể chế.
 
10. Tác động của lan tỏa công nghệ đến tốc độ hội tụ trong ngành công nghiệp phi kim Việt Nam/ Nguyễn Khắc Minh, Phạm Khánh Linh, Nguyễn Bá Hưng// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 209/2014 .- Tr.95-101
Mục tiêu chính của nghiên cứu này là trả lời cho câu hỏi vì sao những doanh nghiệp có năng suất thấp lại có thể bắt kịp những doanh nghiệp có năng suất cao nếu không có đủ khả năng đầu tư vào R&D? Câu trả lời là lan tỏa công nghệ, nhưng lan tỏa công nghệ diễn ra như thế nào và liệu có thể lượng hóa được không? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi đã xây dựng biến biểu thị kênh truyền tải tiến bộ công nghệ từ doanh nghiệp có năng suất cao sang doanh nghiệp có năng suất thấp, lượng hóa được ảnh hưởng của lan tỏa công nghệ và áp dụng vào nghiên cứu tác động của lan tỏa công nghệ đến hội tụ năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của ngành phi kim. Chúng tôi đã xây dựng hai chuỗi TFP theo phương pháp của (i) Levinsohn & Petrin (2003) sử dụng nguyên liệu làm biến xấp xỉ và (ii) phương pháp của Olley-Pakes (1996) sử dụng đầu tư làm biến xấp xỉ cho sốc năng suất không quan sát được để hiệu chỉnh tính đồng thời của hàm sản xuất. Trên cơ sở hai chuỗi TFP xây dựng được, chúng tôi đã xây dựng các mô hình hội tụ không điều kiện và mô hình hội tụ dưới tác động của lan tỏa công nghệ. Kết quả ước lượng mô hình hội tụ và mô hình hội tụ có bổ sung biến lan tỏa công nghệ cho thấy tổng ảnh hưởng của các biến biểu thị cho lan tỏa công nghệ là dương và tốc độ hội tụ của các mô hình có các biến lan tỏa công nghệ nhanh hơn so với các mô hình hội tụ không đều kiện (không có biến lan tỏa công nghệ.
Từ khóa: Phương pháp bán tham số, năng suất, công ty, công nghệ, Việt Nam, công nghiệp phi kim.

11. Nghiên cứu xu hướng rủi ro phi hệ thống trên thị trường chứng khoán Việt Nam/ Võ Xuân Vinh, Đặng Quốc Thành// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 209/2014 .- Tr. 102-111
Bài báo này nghiên cứu xu hướng của rủi ro phi hệ thống trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Sử dụng các phương pháp phân tích định lượng với dữ liệu là các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2007 đến 2012, kết quả cho thấy rủi ro phi hệ thống giảm trong thời gian nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa trong việc cung cấp thêm những thông tin tổng quan hơn về thị trường chứng khoán Việt Nam. Hơn nữa, xu hướng rủi ro phi hệ thống giảm dần cho thấy sự tồn tại lợi ích từ việc đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Từ khóa: Rủi ro, thị trường chứng khoán, Việt Nam.
 
12. Ảnh hưởng của quảng cáo và khuyến mãi đến giá trị thương hiệu: trường hợp khách hàng là thuê bao di động trả trước tại thành phố Đà Nẵng, Việt Nam/ Trương Bá Thanh, Trần Trung Vinh// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 209/2014 .- Tr. 112-120
Nghiên cứu với mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của quảng cáo và khuyến mãi đến các yếu tố cấu thành giá trị thương hiệu và ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành giá trị thương hiệu đến giá trị thương hiệu. Mẫu được thu thập từ 278 khách hàng là các thuê bao di động trả trước tại TP. Đà Nẵng. Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính chỉ ra: (1) chi phí quảng cáo có ảnh hưởng tích cực đến nhận biết thương hiệu, liên tưởng thương hiệu và trung thành thương hiệu nhưng không ảnh hưởng tích cực đến chất lượng cảm nhận; (2) khuyến mãi theo hướng tiền tệ có ảnh hưởng tiêu cực đến liên tưởng thương hiệu nhưng không ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cảm nhận; (3) chất lượng cảm nhận, nhận biết thương hiệu, liên tưởng thương hiệu và trung thành thương hiệu đều có ảnh hưởng thuận chiều đến giá trị thương hiệu. Dựa vào kết quả nghiên cứu, tác giả gợi ý một số hàm ý chính sách cho các nhà cung cấp mạng di động đang hoạt động.
Từ khóa: Chi phí, quảng cáo, khuyến mãi theo hướng, giá trị, thương hiệu, khách hàng, thuê bao, di động, viễn thông.
Trung tâm Thông tin Thư viện
♦ Ý kiến của bạn
Chia sẻ :

Địa chỉ: Số 36 - Đường Dân Lập - Phường Dư Hàng Kênh - Quận Lê Chân - TP Hải Phòng
Điện thoại: 0225 3740577 - 0225 3833802 -- Fax: 0225.3740476 Email: webmaster@hpu.edu.vn