TIN TỨC HPU

  Thứ sáu, 21/11/2014 - 02:21:42

Bài trích tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ số 21 và 22 năm 2014

Xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ số 21 và 22 năm 2014 tại Phòng Đọc tầng 5 nhà G - Trung tâm Thông tin Thư viện - Trường Đại học Dân lập Hải Phòng


1. Xếp hạng tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại Việt Nam thực trạng và những hạn chế cần hoàn thiện/ Trương Thị Hồng, Lê Thị Minh Ngọc// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 21/2014 .- Tr. 17-21.
Xếp hạng tín dụng khách hàng cá nhân để có cơ sở cấp tín dụng là một hoạt động thường xuyên của các NHTM. Dù ở mỗi NHTM khác nhau, các tiêu chí chấm điểm, phân loại khách hàng có thể không giống nhau hoàn toàn nhưng về bản chất là như nhau. Mục đích cuối cùng các NHTM mong muốn là cấp tín dụng đúng đối tượng và thu hồi được vốn và lãi khi đến hạn. Trong phạm vi bài viết này nhóm tác giả mong muốn chỉ ra những hạn chế, những chỗ chưa hoàn thiện trên cơ sở dựa vào thực trạng việc xếp hạn tín dụng tại một số NHTM Việt Nam.
Từ khóa: Tín dụng, ngân hàng thương mại, Việt Nam, khách hàng.

2. Vật quyền bảo đảm trong dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi/ Bùi Đức Giang// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 21/2014 .- Tr. 22-25
Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) năm 2014 đã chính thức đưa khái niệm vật quyền bảo đảm vào trong phần quy định về giao dịch bảo đảm (điều 275 và các điều tiếp theo). Điều này đã dẫn tới các thay đổi căn bản trong việc phân loại giao dịch bảo đảm và có tác động đáng kể đến hiệu quả của các biện pháp bảo đảm. Bài viết tập trung bình luận các quy định mới của Dự thảo về giao dịch bảo đảm, giới thiệu chế định vật quyền bảo đảm theo quy định của pháp luật Pháp - một trong những nền pháp luật đang thừa nhận và cấu trúc quy định về bảo đảm dựa trên cách phân chia giao dịch bảo đảm thành các biện pháp bảo đảm đối nhân (suretés personnelles) và các biện pháp bảo đảm đối vật (suretés réelles) - và cách tiếp cận của pháp luật Anh để đi tới việc đánh giá tính khả thi của các quy định mới của Dự thảo.
Từ khóa: Luật pháp, Luật dân sự, vật quyền bảo đảm.

3. Tiền điện tử lời giải cho bài toán phát triển dịch vụ trung gian thanh toán tại Việt Nam/ Hoàng Thị Kim Thanh, Trần Huy Tùng// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 21/2014 .- Tr. 26-29
Dịch vụ trung gian thanh toán có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của thanh toán điện tử. Tuy nhiên, dịch vụ trung gian thanh toán hiện nay ở Việt Nam chưa phát triển vì nhiều nguyên nhân như: hệ thống văn bản pháp lý chưa đầy đủ, ý thức sử dụng các phương tiện thay thế tiền mặt của người dân còn chưa cao, cơ sở hạ tầng chưa phát triển đồng bộ, sự liên kết giữa công ty cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại (NHTM) và công ty dịch vụ viễn thông còn chưa nhiều và các loại hình tiền điện tử chưa có sự đa dạng... Bài nghiên cứu sẽ trình bày: (i) tổng quan về dịch vụ trung gian thanh toán, (ii) mối liên hệ của tiền điện tử trong việc phát triển các dịch vụ trung gian thanh toán và (iii) đề xuất định hướng phát triển tiền điện tử cho Việt Nam.
Từ khóa: Việt Nam, tiền điện tử, thanh toán, dịch vụ

4. Quản trị rủi ro trong đầu tư Trái phiếu Chính phủ/ Bùi Duy Linh, Huỳnh Lưu Đức Toàn, Nguyễn Đình Quốc Trung// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 21/2014 .- Tr. 30-32
Lựa chọn công cụ đầu tư, suất sinh lời dự kiến cao và rủi ro tiềm tàng ở mức chấp nhận được của các sản phẩm tài chính xưa nay luôn là một mục tiêu hàng đầu đối với các nhà đầu tư, trong đó có các tổ chức tín dụng (TCTD). Trong các sản phẩm tài chính đó, các TCTD vẫn xem trái phiếu Chính phủ (TPCP) là hoạt động đầu tư sinh lời rất an toàn, suất sinh lời gần như chắc chắn và khó có nhiều biến động, chính vì vậy TPCP được các TCTD xem như tài sản phi rủi ro. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc đầu tư vào TPCP vẫn có thể dẫn tới trạng thái thua lỗ nếu lãi suất biến động không như dự kiến. Mặc dù TPCP có thanh khoản rất cao nhưng trong những điều kiện nhất định, tính thanh khoản của TPCP không hẳn cao như nhiều người vẫn thường nghĩ. Bài viết đề cập tới một số loại rủi ro căn bản khi đầu tư TPCP mà TCTD có thể gặp phải cũng như một số giải pháp để quản trị rủi ro cho các TCTD đầu tư vào TPCP.
Từ khóa: Trái phiếu, Chính phủ, Quản trị, Rủi ro.

5. Các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản trường hợp các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam/ Trương Quang Thông, Phạm Minh Tiến// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 21/2014 .- Tr. 33-35
Trong thời gian nghiên cứu từ năm 2002 đến 2012 hệ thống NHTMCP đã gặp phải những biến động mạnh. Trong đó, các chỉ số đều có xu hướng tăng trong thời kỳ 2002 - 2007, đây là thời kỳ nền kinh tế Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng khá cao. Ngược lại, kể từ năm 2008, các chỉ số có xu hướng giảm dần ngoại trừ chi số về tổng tài sản của các ngân hàng. Kể từ năm 2002, chỉ số trung bình về tổng tài sản của các ngân hàng liên tục tăng cao, đến năm 2012 quy mô tài sản trung bình của hệ thống ngân hàng gấp xấp xỉ 12 lần so với năm 2002, quá trình tăng nhanh chóng này một phần đến từ quá trình mở rộng các ngân hàng theo sự phát triển kinh tế, một phần khác từ các quy định từ ngân hàng nhà nước khi áp đặt tiêu chuẩn về vốn điều lệ của các ngân hàng.
Từ khóa: Ngân hàng thương mại cổ phần, Việt Nam, rủi ro, thanh khoản.

6. Khủng hoảng tài chính và công cuộc tái cấu trúc hệ thống tài chính của một số quốc gia Đông Nam Á/ Nguyễn Quốc Nghi, Lê Thị Diệu Hiền// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 21/2014 .- Tr. 36-38
Bên cạnh những nền kinh tế lớn và lâu đời như: Khối cộng đồng chung châu Âu (EEC), khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA),... các nước ASEAN nổi lên với tương lai đầy triển vọng về một khu vực kinh tế mới. Trong những thập kỷ qua, các quốc gia Đông Nam Á đã có những bước tiến dài đáng ghi nhận. Tuy nhiên, sự phát triển thần kỳ chưa được bao lâu đã phải chứng kiến những nguy cơ của sự khủng hoảng. Trong đó, Thái Lan chính là quốc gia châm ngòi đầu tiên và khủng hoảng đã thật sự diễn ra vào ngày 02/7/1997, mang đến những thiệt hại khổng lồ. Cuộc khủng hoảng được ví như một “con thiên nga đen” đã khiến hệ thống tài chính không chỉ ở Thái Lan mà còn ở các quốc gia trong khu vực như: Indonesia, Malaysia, Philippines chao đảo nghiêm trọng, bắt buộc phải đi đến con đường tái cấu trúc để vượt qua khủng hoảng và hoạt động ổn định hơn.
Từ khóa: Tài chính, tái cấu trúc, khủng hoảng, Đông Nam Á.

7. Lạm phát mục tiêu khuôn khổ điều hành CSTT được lựa chọn của một số quốc gia Châu Á/ Trang Ngọc// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 21/2014 .- Tr. 39-40
Việc thiết lập khuôn khổ lạm phát mục tiêu tại các quốc gia châu Á cũng đều tuân theo một khuôn khổ xác định. Theo đó, mỗi quốc gia đều phải xác định cho mình một mức lạm phát mục tiêu phù hợp với trình độ phát triển cũng như bối cảnh kinh tế trong nước. Để thực hiện được mục tiêu lạm phát này, mục tiêu hoạt động hướng tới của các NHTW đó là kiểm soát lãi suất. NHTW mỗi nước phải đều xây dựng cho mình một loại lãi suất chính sách chủ đạo, mang hiệu ứng thông báo rõ ràng, được lựa chọn cẩn thận trên nền tảng nghiên cứu kỹ lưỡng về cơ chế truyền tải CSTT.
Từ khóa: Châu Á, lạm phát, chính sách, tiền tệ.

8. Vì sao IS có nguồn lực tài chính mạnh?/ Nguyễn Nhâm// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 21/2014 .- Tr. 41-42
Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) là nhóm khủng bố được đánh giá là giàu có nhất được biết cho đến nay, chúng có khả năng tự kiếm tiền, tự cung cấp tài chính trên quy mô lớn nhờ kiểm soát được khu vực rộng lớn ở hai nước Iraq và Syria, gần tương đương với diện tích của nước Anh. Đồng thời cũng tích cực khai thác từ nguồn tài trợ của bên ngoài. Giới chức tình báo và chuyên gia tài chính chống khủng bố Mỹ cho rằng, IS có khả năng huy động từ 2 đến 3 triệu USD mỗi ngày. Với nguồn thu như vậy, thì đây là nhóm phiến quân có mức thu lớn hơn “tất cả các nhóm khủng bố trong lịch sử”.
Từ khóa: Khủng bố, tài chính, Hồi giáo, IS.

1. Tín dụng ngân hàng góp phần tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới vùng Đồng bằng sông Cửu Long/ Nguyễn Thị Nhung// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 22/2014 .- Tr. 17-22
Đến tháng 8/2013, dư nợ của các TCTD trên địa bàn ĐBSCL đã tăng hơn 9% so với cuối năm 2012, đạt mức dư nợ là 301.652 tỷ đồng; trong đó dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn là 122.531 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 40,62% tổng dư nợ, nếu so với dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn của các TCTD cả nước thì vùng ĐBSCL chiếm tỷ lệ 17,37%. So sánh dư nợ cuối tháng 8/2013 với dư nợ cuối năm 2012, trong 13 tỉnh ĐBSCL thì Vĩnh Long vừa dẫn đầu về tốc độ tăng dư nợ (16,08%), vừa dẫn đầu về tăng dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn (55,9%).
Từ khóa: Ngân hàng, tín dụng, tái cơ cấu, nông nghiệp, nông thôn, đồng bằng sông Cửu Long.

2. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng cung ứng dịch vụ thẻ của khách hàng cá nhân tại Việt Nam/ Lê Phan Thị Diệu Thảo, Phan Hải Thủy// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 22/2014 .- Tr. 23-25
Cùng với bước phát triển vượt bậc của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM), cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày một gia tăng, đặc biệt trong thị trường bán lẻ. Các NHTM ngày càng chuyển hướng phát triển nhiều dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân (KHCN) trong đó có dịch vụ thẻ. Các NHTM thực hiện hàng loạt các chiêu thức như khuyến mãi, sự thân thiện, chuyên nghiệp, ưu đãi dành cho khách hàng.... để tiếp cận khách hàng nhưng hiệu quả đạt được chưa như mong đợi. Tìm kiếm lý do KHCN chọn ngân hàng cung ứng thẻ để có chính sách kinh doanh phù hợp là mong muốn của nhóm nghiên cứu.
Từ khóa: Ngân hàng, thẻ, khách hàng, Việt Nam

3. Giải quyết vấn đề lãi suất và tăng trưởng tín dụng trong giai đoạn hiện nay ở nước ta/ Hoàng Xuân Quế// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 22/2014 .- Tr. 26-28
Trong năm 2014,  tính cho đến thời điểm này, NHNN đã thực hiện hai lần điều chỉnh giảm lãi suất. Ở lần thứ nhất vào ngày 17/3/2014, NHNN đã điều chỉnh giảm lãi suất tái cấp vốn từ 7%/năm xuống 6,5%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ 5%/năm xuống 4,5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng từ 8%/năm xuống 7,5%/năm.
Từ khóa: Tín dụng, lãi suất, tăng trưởng

4. Nhu cầu bồi dưỡng kiến thức pháp lý cho người giám định tư phápthực trạng và kiến nghị/ Nguyễn Văn Lợi// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 22/2014 .- Tr. 29-31
Do tính chất đặc thù, ngành ngân hàng được quản lý theo ngành dọc, chưa có các cơ quan chuyên môn độc lập về giám định tư pháp trong lĩnh vực ngân hàng, nên khi cơ quan tố tụng có yêu cầu trưng cầu giám định về tiền tệ và hoạt động ngân hàng thường trưng cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện giám định. Đặc biệt, những năm gần đây do tình hình tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng tăng nên số vụ việc cần trưng cầu giám định cũng tăng, nội dung giám định yêu cầu giám định phức tạp, thời gian để thực hiện giám định kéo dài, số lượng công chức ngân hàng đáp ứng về trình độ, năng lực, kinh nghiệm theo quy định pháp luật về giám định tư pháp có hạn, đồng thời công việc chuyên môn vẫn phải thực hiện.
Từ khóa: Luật pháp, tư pháp, kiến thức, người giám định.

5. Ðánh giá sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ thẻ ATM tại Agribank - chi nhánh Nghệ An/ Lê Kim Long, Nguyễn Thị Hoa Lý, Nguyễn Đăng Đức// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 22/2014 .- Tr. 32-35
Chi nhánh Agribank Nghệ An hiện có 29 máy ATM lắp đặt tại các huyện, thành, thị, chỉ còn 2 huyện miền núi Kỳ Sơn và Quỳ Châu chưa lắp máy ATM. Chi nhánh còn áp dụng nhiều dịch vụ tiện ích cho khách hàng như: Dịch vụ thẻ, dịch vụ ngân hàng trực tuyến cá nhân và doanh nghiệp (internet banking); Ngân hàng di động (mobile banking); SMS nhắc nợ vay... kết nối thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng. Gần đây có thêm dịch vụ thanh toán trực tuyến (E.Commerce) là dịch vụ thanh toán không xuất trình thẻ, được chủ thẻ thực hiện tại các website bán hàng để thanh toán hàng hoá, dịch vụ qua cổng thanh toán Banknetvn.
Từ khóa: Agribank, khách hàng, hài lòng, ATM, Nghệ An.

6. Cần tháo gỡ vướng mắc để đẩy nhanh xử lý nợ xấu/ Lê Bá Trực// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 22/2014 .- Tr. 36-39
Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng Việt Nam là một trong ba trọng tâm của tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam theo Nghị quyết 10/2011/QH13 của Quốc hội khóa 13. Cho đến thời điểm này, Chính phủ và NHNN đã triển khai nhiều biện pháp để tái cấu trúc ngân hàng trong đó ưu tiên hàng đầu là xử lý nợ xấu và đã thu được những kết quả bước đầu khả quan.
Từ khóa: Ngân hàng, nợ xấu, giải pháp

7. Kinh nghiệm trong phối hợp giữa chính sách tài khoá và tiền tệ ở Trung Quốc và một  số khuyến nghị/ Huỳnh Lưu Đức Toàn, Trương Hồng Quang, Nguyễn Thị Minh Xuân// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 22/2014 .- Tr. 40-41
Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ là hai công cụ quan trọng trong điều hành và quản lý kinh tế vĩ mô của bất kỳ một quốc gia nào. Sự tương tác giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ để tạo điều kiện cho việc đạt được các mục đích kinh tế vĩ mô là vấn đề phức tạp trong mối quan hệ vận hành ở các quốc gia. Vì vậy, việc nghiên cứu tập trung để vừa có thể đảm bảo thực hiện được các mục tiêu riêng của các chính sách, vừa đảm bảo không xảy ra mâu thuẫn trong quá trình vận hành phối hợp là vấn đề quan trọng cần được suy xét. Bài viết sẽ đề xuất các phần lý thuyết liên quan đến việc phối hợp chính sách tiền tệ và tài khoá liên quan đến định nghĩa và mục tiêu chung. Qua đó, xem xét lại việc áp dụng phối hợp hai chính sách này ở Trung Quốc, từ đó rút ra một số khuyến nghị cho Việt Nam.
Từ khóa: Tài khóa, tiền tệ, Trung Quốc, kinh nghiệm.
Trung tâm Thông tin Thư viện


♦ Ý kiến của bạn
Chia sẻ :

Địa chỉ: Số 36 - Đường Dân Lập - Phường Dư Hàng Kênh - Quận Lê Chân - TP Hải Phòng
Điện thoại: 0225 3740577 - 0225 3833802 -- Fax: 0225.3740476 Email: webmaster@hpu.edu.vn