TIN TỨC HPU

  Thứ sáu, 10/10/2014 - 09:12:43

Bài trích Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ số 17 và 18 năm 2014

Xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ số 17 và 18 năm 2014 tại Phòng Đọc tầng 5 nhà G - Trung tâm Thông tin Thư viện - Trường Đại học Dân lập Hải Phòng

 
1. Xử lý tài sản bảo đảm yếu tố quan trọng hàng đầu trong công tác thu hồi nợ xấu/  Đào Minh Dân// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 17/ 2014 .- Tr. 21-22
Xử lý nợ xấu là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay. Tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống  tại thời điểm tháng 1/2014 là 3,73%, tháng 2/2014 là 3,86% trên tổng dư nợ hơn 3,43 triệu tỷ đồng, đến 30/6/2014, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống ở mức 4,17%. Có thể thấy, nợ xấu ngân hàng có tăng, tuy nhiên, tính chung tỷ lệ nợ xấu của 03 Ngân hàng TMCP Nhà nước và 05 Ngân hàng TMCP lớn đều xấp xỉ quanh mức an toàn 3%. Trong đó, tỷ lệ nợ có bảo đảm bằng tài sản chiếm 84,16%. Tất nhiên, nợ xấu tăng còn nhiều nguyên nhân từ khó khăn kinh tế vĩ mô, sức trả nợ của nhiều doanh nghiệp còn yếu..., và do việc các NHTM  triển khai thực hiện các quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro theo Thông tư 09/2014/TT-NHNN ngày 18/3/2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, theo đó các điều kiện phân loại nhóm nợ chặt chẽ và khắt khe hơn trước để phản ánh chính xác hơn chất lượng tín dụng và thực trạng nợ xấu. Điều đó có nghĩa, khi áp dụng các tiêu chuẩn cao hơn, nợ xấu các ngân hàng chắc chắn sẽ tăng lên trong ngắn hạn. Tuy nhiên, có một yếu tố hết sức quan trọng qua thực tiễn giải quyết vấn đề nợ xấu cho thấy đó là những khó khăn, rào cản từ chính khuôn khổ pháp lý về xử lý tài sản bảo đảm.
Từ khóa: Ngân hàng, nợ xấu, tài sản, thu hồi.

2. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn dịch vụ TTKDTM/ Đặng Công Hoàn//  Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 17/ 2014 .- Tr. 23-27
“Thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) là những khoản thanh toán được thực hiện bằng cách trừ tiền từ tài khoản của người phải trả sang tài khoản của người thụ hưởng hoặc được bù trừ lẫn nhau thông qua đơn vị cung ứng dịch vụ thanh toán”, phương thức thanh toán này được thực hiện thông qua các công cụ như thẻ, dịch vụ Ngân hàng điện tử (NHĐT), Mobilebanking... Về bản chất, sự lựa chọn dịch vụ TTKDTM của người dân chính là sự lựa chọn các công cụ nói trên cho hoạt động thanh toán chi trả của mình. Quyết định việc lựa chọn phương thức thanh toán này của nhóm khách hàng dân cư phụ thuộc rất nhiều yếu tố có liên quan đến cả một quá trình, từ khâu cung cấp dịch vụ cho đến việc duy trì và sử dụng của mỗi một khách hàng. Nó cũng phản ánh một trạng thái tâm lý của khách hàng trước các thông tin về lợi ích/tiện dụng mà họ được tiếp cận từ cả các kênh thông tin do các ngân  hàng (đơn vị cung ứng dịch vụ thanh toán) giới thiệu cũng như thông tin từ sự phổ cập giá trị của xã hội và nền kinh tế.
Từ khóa: Ngân hàng, tài khoản, thanh toán, ngân hàng điện tử.

3. Áp dụng phương pháp Twostep Cluster trong phân nhóm khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng/ Phạm Thị Mai Anh// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 17/ 2014 .- Tr. 28-31
Twosteps Cluster (phân cụm 2 bước) là một phương pháp thống kê để phân loại khách hàng của ngân hàng theo các nhóm khác nhau. Có rất nhiều nghiên cứu đã ứng dụng thuật toán phân cụm (cluster) cho các lĩnh vực  khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đó chỉ thực hiên phân cụm với dữ liệu hoặc định lượng hoặc định tính. Trong thực tế, các dữ liệu về một hiện tượng KTXH nào đó, đặc biệt là với những dữ liệu thu được từ hồ sơ khách hàng tại các ngân hàng, thường được lưu trữ đồng thời dưới cả dạng định tính và định lượng. Phương pháp phân cụm 2 bước (Twostep Cluster) là một phương pháp ứng dụng của riêng SPSS có thể giải quyết được vấn đề này. Vậy nội dung của phương pháp này là gì, các dữ liệu được sử dụng trong phân tích thực tế và cách diễn giải kết quả phân tích sẽ được giới thiệu trong bài viết.
Từ khóa: Ngân hàng, khách hàng, phân nhóm, phương pháp Twostep Cluster
4. Phổ biến kiến thức tài chính cho người dân vì một hệ thống tài chính an toàn, lành mạnh/ Lê Hùng Cường, Đỗ Thanh Nga// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 17/ 2014 .- Tr. 32-34
Kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ trong một thời gian dài đã tạo nên nguồn lực lớn về tài chính trong dân. Người dân nói chung giờ đây đã có “của ăn, của để”, và nhu cầu đầu tư tiền nhàn rỗi vì vậy đã trở nên cấp thiết hơn. Hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng ra đời với số lượng lớn đáp ứng nhu cầu luân chuyển vốn trong nền kinh tế, là kênh huy động vốn đầu tư hiệu quả và an toàn cho xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh các kênh tài chính ngân hàng chính thức, xuất hiện các dịch vụ ngân hàng trong bóng tối (shadow banking), thậm chí các dịch vụ trung gian tài chính phi chính thức, phi pháp như “chơi” hụi, tín dụng đen... Sự đổ vỡ quy mô lớn của các dịch vụ trung gian tài chính phi chính thức nói trên trong thời gian qua phần nào thể hiện sự thiếu hiểu biết về tài chính của người dân, cộng thêm tâm lý hám lợi đã bất chấp hoặc không nhận thức đầy đủ những rủi ro mà các hình thức lợi nhuận cao đó đem lại.
Từ khóa: ngân hàng, tài chính, kiến thức, nhân dân

5. Tạo “cú hích” cho nông nghiệp  từ “vốn ngoại”/ Phạm Đăng Minh// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 17/ 2014 .- Tr. 35-37
Đẩy nhanh công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nhằm tạo ra động lực mới để đưa kinh tế nông thôn phát triển lên một giai đoạn cao hơn và hướng tới một nền nông nghiệp bền vững là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Để đạt mục tiêu này, đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn vào lĩnh vực nông nghiệp. Trong bối cảnh huy động nguồn vốn từ ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, nguồn vốn ODA có xu hướng giảm sút trong những năm gần đây thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được xác định là một nguồn vốn quan trọng góp phần hiện thực hoá chủ trương này. Trong thời gian qua, nguồn vốn FDI vào Việt Nam ngày càng tăng, song vốn FDI trong nông nghiệp vẫn “chưa tương xứng với tiềm năng”, chưa đủ để phục vụ cho nhu cầu phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn”.
Từ khóa: Ngân hàng, nông nghiệp, vốn,

6. Hoạt động ngân hàng đầu tư trên thế giới và một số bài học kinh nghiệm/ Tạ Hoàng Hà// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 17/ 2014 .- Tr. 38-47
Theo Investment Banking – institutions, politics and law của các tác giả Alan D. Morrison và William J. Whilhelm, Jr đã nêu rõ: “Chức năng trọng tâm của một ngân hàng đầu tư là thu thập và bán lẻ các thông tin liên quan đến giá (price-relevant information). Theo truyền thống, thuật ngữ ngân hàng đầu tư đề cập đến chức năng tư vấn, theo đó phụ thuộc vào việc cung cấp và diễn giải các thông tin trên. Ngân hàng đầu tư cung cấp dịch vụ tư vấn này cho các công ty và tổ chức chính phủ muốn huy động vốn trên thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp muốn thâu tóm cổ phần kiểm soát của đối thủ, hoặc có nhu cầu tái đàm phán với bên nắm giữ cổ phần chi phối mình, các tập đoàn muốn tái cấu trúc lại danh mục công nợ và tránh phá sản.”
Theo đó, các hoạt động ngân hàng đầu tư được chia thành 3 loại chính là:
- Hoạt động ngân hàng đầu tư truyền thống (Traditional Investment Banking);
- Hoạt động kinh doanh và đầu tư chứng khoán vốn (Trading and Principal Investment);
- Quản lý tài sản và cung cấp dịch vụ chứng khoán hóa (Asset Management and Securities Services).
Tuy nhiên, theo quan điểm hiện đại, nghiệp vụ ngân hàng đầu tư được mở rộng sang các lĩnh vực khác và ngân hàng trở thành chủ thể kinh doanh đa dạng, lấy nghiệp vụ ngân hàng đầu tư làm truyền thống cốt lõi. Các mảng nghiệp vụ ngân hàng đầu tư hiện đại ngoài nghiệp vụ ngân hàng đầu tư truyền thống (bao gồm dịch vụ phát hành chứng khoán và tư vấn mua bán sáp nhập doanh nghiệp) còn có hoạt động đầu tư (sales and trading), nghiên cứu (research), quản lý đầu tư (investment management), ngân hàng bán buôn (merchant banking) và nghiệp vụ nhà môi giới chính (prime brokerage).
Từ khóa: Ngân hàng, đầu tư, thế giới, bài học.

7. Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam trong thời gian qua/ Trương Quang Thông// Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 17/ 2014 .- Tr. 48-51
Nghị quyết 10/2011/QH13 của Quốc hội khóa 13 về Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015 xác định cơ cấu lại thị trường tài chính mà trọng tâm là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) là 1 trong 3 lĩnh vực quan trọng của tái cơ cấu nền kinh tế. Hơn một nửa thời gian đã đi qua, những nỗ lực của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong việc thực hiện Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam đã gặt hái được một số thành quả ban đầu. Nhưng để phát triển được hệ thống các TCTD đa năng theo hướng hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả và bền vững, có khả năng cạnh tranh lớn hơn như mục tiêu của Đề án vẫn còn là những thách thức rất lớn.
Từ khóa: Ngân hàng, Việt Nam, tái cơ cấu.

8. Điều kiện cần và đủ khi cho vay tín chấp đối với doanh nghiệp/ Đào Minh Dân// Tạp chí 52-54
Nhằm triển khai chỉ thị 11/CT-TTg ngày 21/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ về giải quyết khó khăn, vướng mắc, kiến nghị, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; ngày 24/07/2014, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản số 5342/NHNN-TTGSNH  yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai một số biện pháp đẩy mạnh cho vay, trong đó có hướng xem xét tăng cường khả năng cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.
Từ khóa: Ngân hàng, Vay tín chấp, doanh nghiệp.

9. Chuẩn ISO 20022 cho các hệ thống thanh toán ngành tài chính - ngân hàng/ Thủy Tâm// Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 17/ 2014 .- Tr. 55-56
Đối với mỗi tổ chức, quốc gia, việc sử dụng đồng thời nhiều bộ tiêu chuẩn trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng đặt ra cho các nhà quản trị áp lực giải bài toán giảm thiểu các chi phí phát sinh liên quan đến nhân lực, hệ thống cơ sở hạ tầng, quản lý rủi ro, bảo trì... Sự ra đời bộ Tiêu chuẩn ISO 20022 (ISO 20022) với thế mạnh tạo ra một “ngôn ngữ chung” duy nhất cho tất cả các thông tin tài chính trong mọi lĩnh vực kinh doanh, ứng dụng đa dạng với mọi cơ sở hạ tầng, mạng lưới, các đối tác, khách hàng, nhà cung cấp dịch vụ và thị trường..., được đánh giá đã đáp ứng xu thế phát triển ngành tài chính - ngân hàng trong bối cảnh hội nhập.
Từ khóa: Ngân hàng, tài chính, thanh toán, Iso 20022
 
 
1. Giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý nợ xấu/ Phạm Hữu Hùng// Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 18/ 2014 .- Tr. 21-23
Sau hơn hai năm triển khai, tiến trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng (TCTD) đã đạt được những thành công bước đầu, giúp các TCTD hoạt động an toàn, lành mạnh, hiệu quả, thị trường ngoại hối, thị trường vàng được lập lại kỷ cương, từ đó giúp dự trữ ngoại hối quốc gia tăng cao, tăng niềm tin của người dân vào đồng nội tệ. Những thành công đó được thể hiện qua việc lần đầu tiên kể từ năm 2005, Việt Nam được tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s nâng hạng mức tín nhiệm lên B1. Mặc dù đã đạt được một số thành công quan trọng, song tiến trình tái cơ cấu các TCTD đang gặp một số khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là trong công tác xử lý nợ xấu, rất cần những giải pháp tháo gỡ, từ đó khơi thông nguồn tín dụng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Từ khóa: Ngân hàng, nợ xấu, giải pháp.

2. Thực trạng và giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng/ Phạm Văn Hiếu// Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 18/ 2014 .- Tr. 24-26
Tín dụng ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với việc thực hiện hai mục tiêu quan trọng hàng đầu của đất nước là tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát. Những thành công trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong 2 năm gần đây đã góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý như Quốc hội đề ra. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang trong quá trình tái cơ cấu tổng thể, tổng cầu yếu, khu vực doanh nghiệp gặp khó khăn đã khiến cho tăng trưởng tín dụng các tháng đầu năm 2014 chưa đạt được như kỳ vọng cho dù ngành Ngân hàng đã nỗ lực triển khai nhiều giải pháp.
Từ khóa: Tín dụng, ngân hàng, thực trạng, giải pháp.

3. Điều hành chính sách tiền tệ: “lửa thử vàng, gian nan thử sức”/ Minh Phương// Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 18/ 2014 .- Tr. 27-28
Trong bối cảnh nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, song công tác điều hành chính sách tiền tệ của NHNN từ đầu năm đến nay vẫn được nhiều chuyên gia đánh giá là có nhiều điểm sáng, không chỉ duy trì được sự ổn định của hệ thống ngân hàng mà còn góp phần tích cực vào sự ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Đây cũng chính là những yếu tố mà hai tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới là S&P và Moody’s đánh giá cao khi duy trì và nâng bậc xếp hạng tín nhiệm quốc gia đối với Việt Nam.
Từ khóa: Ngân hàng, tiền tệ, chính sách.

4. Hệ thống thanh toán Việt Nam hướng tới áp dụng chuẩn ISO 20022/ Dương Hồng Phương// Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 18/ 2014 .- Tr. 29-32
ISO 20022 là tiêu chuẩn quốc tế về thanh toán liên thông xuyên quốc gia đã được SWIFT (Society for the Worldwide Interbank  Financial Telecommunication) đăng ký mã toàn cầu và cam kết chịu trách nhiệm bảo trì, công bố kho lưu trữ trung tâm cho ISO 20022. SWIFT là đầu mối phát triển các tiêu chuẩn ISO mới và triển khai thực hiện các tiêu chuẩn mới này trên mạng SWIFT; cung cấp nền tảng phát triển, phần mềm trung gian và giao diện nhằm thúc đẩy áp dụng ISO 20022 cho các lĩnh vực thanh toán, tài chính và thương mại toàn cầu; đồng thời tiếp nhận các yêu cầu thay đổi, bổ sung tiêu chuẩn này.
Được thiết kế nhằm tạo sự hài hòa trong phương thức giao dịch tài chính toàn cầu, chuẩn quốc tế ISO 20022 đã trở thành một “ngôn ngữ” chung, duy nhất để thông qua đó người sử dụng trong các lĩnh vực kinh doanh, mạng lưới liên lạc hoặc hạ tầng thị trường tài chính khác nhau có thể áp dụng và hiểu một cách thống nhất. Do vậy, ISO 20022 đã được Ủy ban ASEAN về Hệ thống Thanh – Quyết toán (WC-PSS) lựa chọn áp dụng cho các hệ thống thanh toán trong khu vực ASEAN theo sự đồng thuận nhất trí của tất cả Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc NHTW các nước thành viên. Việc áp dụng chuẩn chung này sẽ cho phép kết nối liên thông các hệ thống thanh toán trong nước hay xuyên quốc gia, tăng cường tự động hóa và khả năng xử lý thông suốt (STP) đồng thời giảm chi phí cho toàn bộ cộng đồng thanh toán trong khu vực. Việc áp dụng chuẩn này là một trong các sáng kiến chủ chốt hướng tới hội nhập tài chính khu vực trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh tế ASEAN-AEC. Cũng như các nước thành viên khác của ASEAN, hoạt động thanh toán và hệ thống thanh toán ở Việt Nam sẽ sớm hướng tới áp dụng chuẩn ISO 20022 trong quá trình  hội nhập tài chính khu vực Đông Nam Á.
Từ khóa: Ngân hàng, thanh toán, ISO 20022.

5. Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại/ Nguyễn Ngọc Thị Bích Vượng// Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 18/ 2014 .- Tr. 33-36
Dự án đầu tư vốn ODA, vốn ngân sách Nhà nước, vốn vay của các ngân hàng thương mại,... đều phải qua khâu thẩm định để đánh giá tính hiệu quả của dự án. Ðối với các dự án của Nhà nước, các quy định thẩm định khá chặt chẽ trước khi được phê duyệt, bố trí vốn đầu tư. Các dự án do chủ đầu tư tự huy động cũng được các ngân hàng và các nhà tài trợ vốn khác thẩm định khách quan theo các quy trình cụ thể trước khi giải ngân. Trong thời gian qua cũng như hiện nay, với diễn biến nợ xấu trong hệ thống Ngân hàng thương mại ở nước ta thì vấn đề chất lượng thẩm định dự án trước khi cho vay, đặc biệt là thẩm định tài chính càng được quan tâm hơn bao giờ hết. Quản lý chất lượng thẩm định dự án tốt sẽ giúp nâng cao chất lượng tín dụng, đồng thời góp phần hạn chế sự gia tăng của nợ xấu mới.
Từ khóa: Ngân hàng thương mại, tài chính, dự án, cho vay.

6. Nghiên cứu quá trình phát triển của mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp tại Việt Nam/ Đỗ Giang Nam// Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 18/ 2014 .- Tr. 37-40
Theo số liệu đến 31/12/2013, dư nợ cho vay doanh nghiệp chiếm đến 66% tổng dư nợ toàn hệ thống ngân hàng tại Việt Nam, 95% số doanh nghiệp sử dụng ít nhất một dịch vụ ngân hàng. Điều này chứng tỏ trong mối quan hệ hợp tác cùng phát triển, ngân hàng và doanh nghiệp là những đối tác quan trọng của nhau. Tuy nhiên, đôi khi cả ngân hàng và doanh nghiệp vẫn chưa thực sự tìm được tiếng nói chung. Điều này dẫn đến quá trình phát triển của mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp rơi vào trạng thái không ổn định, thậm chí chấm dứt mối quan hệ.  Vì vậy, việc xác định rõ ràng các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển của mối quan hệ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động quản trị quan hệ khách hàng của các ngân hàng. Mỗi giai đoạn không chỉ biểu hiện xu hướng mà còn hàm chứa những mục tiêu thành công khác nhau của mối quan hệ.
Từ khóa: Ngân hàng, doanh nghiệp, Việt Nam, quan hệ.
 
7. Ai là kẻ thắng trong cuộc chiến thương mại EU–Nga?/ Nguyễn Nhâm// Thị trường tài chính tiền tệ .- Số 18/ 2014 .- Tr. 41-42
Các biện pháp trừng phạt của EU đối với Nga giai đoạn đầu chỉ là gián tiếp không mấy tác động đến nền kinh tế Nga. Tuy nhiên, kể từ ngày 01/8 khi lệnh trừng phạt mới của EU có hiệu lực và tiếp ngay sau đó là sự trả đũa của Nga đối với EU thì “cuộc chiến” thương mại EU – Nga đã thực sự bắt đầu. Mặc dù mỗi bên đều lựa chọn mục tiêu nhằm làm thiệt hại cho đối phương nhiều hơn là thiệt hại cho chính bản thân mình, nhưng trên thực tế hiệu ứng lan tỏa trong nền kinh tế toàn cầu đã hội nhập ngày càng sâu rộng, nhất là sự đan xen của hai thị trường EU – Nga về năng lượng và hàng nông sản thì việc cân đong, đo đếm thiệt hơn chỉ là tương đối.
Từ khóa: Thương mại, châu Âu, Nga.
Trung tâm Thông tin Thư viện
 
 
 
 
 
♦ Ý kiến của bạn
Chia sẻ :

Địa chỉ: Số 36 - Đường Dân Lập - Phường Dư Hàng Kênh - Quận Lê Chân - TP Hải Phòng
Điện thoại: 0225 3740577 - 0225 3833802 -- Fax: 0225.3740476 Email: webmaster@hpu.edu.vn