TIN TỨC HPU

  Thứ ba, 07/10/2014 - 03:27:11

Bài trích Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 361 năm 2014

Xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 361 năm 2014 tại Phòng Đọc tầng 5 nhà G - Trung tâm Thông tin Thư viện - Trường Đại học Dân lập Hải Phòng

 


 

1. Ngoại giao văn hóa với vai trò là sức mạnh mềm/ Nguyễn Thị Thùy Yên// Tạp chí Văn hóa nghệ thuật .- Số 361/ 2014 .- Tr. 3-5
Trong quan hệ quốc tế, không phải lúc nào sức mạnh quân sự hay kinh tế cũng có thể tạo nên vị thế quốc gia. Sức mạnh của mỗi quốc gia sẽ được xác định bằng nhiều nhân tố trong đó không thể không kể tới vai trò của văn hóa, một trong những công cụ của sức mạnh mềm. Có thể nói các quốc gia dù phát triển hay đang phát triển, đều vận dụng ngoại giao văn hóa như một công cụ hữu hiệu của sức mạnh mềm để khẳng định hình ảnh của đất nước mình trong cộng đồng quốc tế. Nội dung bài báo đề cao ngoại giao văn hóa với vai trò là sức mạnh mềm.
Từ khóa: Ngoại giao, văn hóa, vai trò, Việt Nam, sức mạnh mềm.

2. Biểu tượng bộ đội cụ Hồ trong văn hóa quân sự Việt Nam/ Phạm Văn Xây// Tạp chí Văn hóa nghệ thuật .- Số 361/ 2014 .- Tr. 6-11
Hồ Chí Minh, người đã khai sinh ra quân đội nhân dân Việt Nam, là hiện thân của niềm tin và sức mạnh, là người tổ chức dẫn dắt nhân dân ta đứng lên tự giải phóng, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Người là hình ảnh tiêu biểu cho tất cả những giá trị cao đẹp của dân tộc Việt Nam, của bản sắc văn hóa Việt Nam. Hình ảnh bộ đội cụ Hồ đã trở thành hiện tượng độc đáo trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc Việt Nam nói chung và văn hóa quân sự Việt Nam nói riêng. Trải qua 70 năm chiến đấu và trưởng thành, quân đội ta với nhiều tên gọi khác nhau, nhưng tựu trung đều là người lính “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân quên mình, vì nhân dân mà chiến đấu hi sinh”. Tất cả đã hội tụ, kết tinh thành biểu tượng cao đẹp bộ đội cụ Hồ. Bài báo viết về biểu tượng bộ đội cụ Hồ trong văn hóa quân sự Việt Nam với các nội dung sau: Biểu tượng bộ đội cụ Hồ; Văn hóa quân sự Việt Nam; Phát huy giá trị văn hóa của biểu tượng bộ đội cụ Hồ trong văn hóa quân sự Việt Nam giai đoạn hiện nay.
Từ khóa: Văn hóa, quân sự, biểu tượng, bộ đội cụ Hồ, Việt Nam.

3. Tín ngưỡng thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở đồng bằng sông Cửu Long/ Nguyễn Thị Đức// Tạp chí Văn hóa nghệ thuật .- Số 361/ 2014 .- Tr. 12-15
Với hình thái tín ngưỡng dân gian, dân tộc ta vốn có truyền thống tôn thờ những người có công đức với dân với nước. Ở đồng bằng song Cửu Long ngoài việc lập làng, lập đình thờ thành hoàng bổn cảnh, những người có công khai sáng, dựng làng, giữ nước, nhân dân còn lập những đền, phủ, miếu thờ danh nhân, thần linh. Gía trị văn hóa truyền thống đó cũng được kết tinh lại thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, hay đạo thờ ông bà. Tín ngưỡng thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở ĐBSCL là loại hình tín ngưỡng đặc biệt, trong đó sự hòa quyện giữa nhu cầu đa dạng về đời sống tâm linh với tình cảm cách mạng mãnh liệt, tập trung hơn cả là sự biết ơn sâu sắc, niềm kính trọng vô biên và nỗi nhớ thương da diết của người dân đối với lãnh tụ. Bài báo đi sâu nghiên cứu loại hình tín ngưỡng dân gian này đề xuất những ý kiến để bảo vệ và phát huy tín ngưỡng thờ Bác Hồ ở ĐBSCL.
Từ khóa: Chủ tịch Hồ Chí Minh, tín ngưỡng, thờ cúng, đồng bằng sông Cửu Long.

4. Nghệ thuật hát nhà tơ ở Phú Đình, Định Hóa, Thái Nguyên/ Nguyễn Đức Thắng// Tạp chí Văn hóa nghệ thuật .- Số 361/ 2014 .- Tr. 16-18
Hát nhà tơ là loại hình nghệ thuật có từ lâu đời xuất phát từ ca trù của người Việt. Trong thời gian quan quân nhà Mạc chiếm giữ Định Hóa có mang theo gia tộc và một số dòng họ từ miền xuôi lên sinh sống tại Phú Đình. Trong đó có dòng họ Nguyễn hiện nay cư trú chủ yếu tại xóm trung tâm của xã. Theo lời các nghệ nhân hát Nhà tơ, nhân dân địa phương Phú Đình trong thời gian này đã tiếp xúc với ca trù và rất yêu thích loại hình nghệ thuật này. Hát Nhà tơ với tư cách là một loại hình nghệ thuật dân gian riêng của địa phương chỉ ra đời vào nửa cuối thế kỷ 19 nhờ công của tầng lớp trí thức và chức dịch trong làng xã. Họ đã cùng với các trí thức Nho học địa phương và những người Việt từ miền xuôi di cư lên sinh sống trong các làng bản tham gia sáng tác các bài hát, học tập lối hát hình thành một loại hình nghệ thuật dân gian riêng của xã Lục Rã, tổng Thanh Hồng xưa (xã Phú Đình, huyện Định Hóa nay). Đến cuối thế kỷ 19, hát nhà Tơ được đưa vào diễn xướng trong lễ hội ở Phú Đình. Loại hình nghệ thuật này ra đời là kết quả của quá trình giao lưu văn hóa giữa người Việt và người Tày. Nội dung bài báo giới thiệu lịch sử nghệ thuật hát nhà tơ ở Thái Nguyên, nội dung của hát nhà tơ.
Từ khóa: Nghệ thuật, Văn hóa phi vật thể, hát nhà tơ, Phú Đình, Định Hóa, Thái Nguyên, văn hóa dân gian.

5. Hà Nội mảnh đất của làng nghề, phố nghề/ Nguyễn Thị Bích Thủy// Tạp chí Văn hóa nghệ thuật .- Số 361/ 2014 .- Tr. 19-24
Làng nghề Hà Nội ra đời và phát triển gắn bó chặt chẽ với lịch sử của Thăng Long – Hà Nội. Trước kia, dân cư chủ yếu là dân gốc, các làng nghề thủ công đã xuất hiện nhưng còn lác đác, như nghề dệt lĩnh ở làng Trích Sài, nghề kim hoàn ở làng Định Công. Sư kiện Lý Thái Tổ quyết định rời đô từ Hoa Lư về Thăng Long đánh dấu một sự thay đổi to lớn đối với Hà Nội. Nhân dân từ khắp nơi đua nhau kéo về kinh thành và vùng ven kinh thành để sinh cư, lập nghiệp. Thế rồi do chiến tranh loạn lạc, họ đã lấy Thăng Long như một nơi trú thân an toàn hơn cả. Người dân về Thăng Long, mang theo các nghề từ thuở cha sinh, mẹ đẻ đã dạy họ quen tay, quen việc. Bài viết giới thiệu về quá trình hình thành, phát triển các làng nghề Hà Nội, phân loại làng nghề, làng nghề truyền thống Hà Nội, đặc trưng văn hóa làng nghề Hà Nội.
Từ khóa: Hà Nội, làng nghề, văn hóa dân gian, Thăng Long.

6. Lễ rước người ở đảo Hà Nam, Yên Hưng, Quảng Ninh/ Vũ Thị Bích Duyên// Tạp chí Văn hóa nghệ thuật .- Số 361/ 2014 .- Tr. 25-29
Đảo Hà Nam thuộc huyện Yên Hưng, một huyện ven biển ở phía Tây Nam tỉnh Quảng Ninh. Đến với Hà Nam hiện nay không chỉ thấy sự đổi mới, khởi sắc về mặt kinh tế xã hội mà còn thấy sự phong phú trong các sinh hoạt văn hóa nhưng vẫn bảo tồn được gần như nguyên vẹn nét văn hóa đặc trưng của làng quê vùng Bắc Bộ thông qua các phong tục, tập quán, lễ hội, các trò chơi dân gian, các món ăn đặc sản, những kinh nghiệm quai đê lấn biển,… hàng trăm di tích với hàng nghìn hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật cao còn được lưu giữ trong các nhà thờ dòng họ Bùi, Nguyễn Đại, Nguyễn Thống, Vũ Tam, Vũ Giai… Điều đó được thể hiện rõ nét qua lễ hội Tiển Công, lễ hội mùa xuân lớn nhất của cư dân vùng đảo Hải Nam. Bài viết giới thiệu những nét độc đáo trong lễ hội Tiên Công.
Từ khóa: Lễ rước người, lễ hội, Tiên Công, Hà Nam, Yên Hưng, Quảng Ninh, Văn hóa dân gian, tín ngưỡng, phong tục.

7. Giao lưu tín ngưỡng Việt – Chăm trong lịch sử/ Trần Dũng// Tạp chí Văn hóa nghệ thuật .- Số 361/ 2014 .- Tr. 29-33
Trong quá khứ, người Chăm đã từng xây dựng nên một quốc gia Champa độc lập hùng mạnh ở Đông Nam Á và cùng tồn tại bên cạnh quốc gia Đại Việt của người Việt. Những thành tựu để lại, trong đó các tháp cổ, đã và đang làm tăng thêm nét đẹp cho đất nước, đặc biệt là thánh địa Mỹ Sơn ở tỉnh Quảng Nam đã được tổ chức Unesco công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào ngày 1-12-1999. Người Việt cổ và người Chăm cổ đã có mối quan hệ giao lưu với nhau từ rất sởm trong lịch sử. Những dấu tích tìm thấy ở các di chỉ văn hóa Tiền Đông Sơn, Đông Sơn của người Việt và Tiền Sa Huỳnh, Sa Huỳnh của người Chăm đã chứng minh điều đó.
Từ khóa: Văn hóa dân gian, Tín ngưỡng, người Việt, người Chăm, lịch sử.

8. Biến đổi văn hóa sản xuất tại vùng tái định cư Thủy điện Sơn La/ Nguyễn Thị Tuyến// Tạp chí Văn hóa nghệ thuật .- Số 361/ 2014 .- Tr. 34-37
Bài báo giới thiệu đôi nét về biến đổi văn hóa và biến đổi văn hóa sản xuất, qua đó nêu lên thực trạng và một số giải pháp đối với biến đổi văn hóa sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng tái định cư thủy điện Sơn La.
Từ khóa: Văn hóa sản xuất, biến đổi văn hóa, tái định cư, thủy điện Sơn La.

9. Du lịch tâm linh và lễ hội văn hóa ở Việt Nam thời kỳ toàn cầu hóa/ Trần Thị Hồng Anh// Tạp chí Văn hóa nghệ thuật .- Số 361/ 2014 .- Tr. 42-45
Du lịch tâm linh, lễ hội văn hóa cổ truyền và tự do tín ngưỡng là những giá trị tinh thần liên quan mật thiết với nhau. Tự do tín ngưỡng được thừa nhận và ghi nhận đã trở thành công cụ bảo vệ những giá trị tâm linh, tạo điều kiện cho các tôn giáo được duy trì và phát triển. Tự do tín ngưỡng cũng là mảnh đất tinh thần, cuộc sống hiện thực của du lịch tâm linh và lễ hội văn hóa. Tôn giáo không phải là cái gì đó hủ lậu. Trên thực tế, tôn giáo là chỗ dựa tinh thần cho con người, là yếu tố mang tính giáo hóa tích cực, góp phần thúc đẩy con người tiến lên. Sự tiến bộ của con người được thực hiện thông qua ảnh hưởng của những hoạt động lễ hội, du lịch tâm linh. Những yếu tố tích cực này góp phần bảo vệ, thúc đẩy tự do tôn giáo lành mạnh và đích thực. Nhiều hủ lậu tâm linh còn tồn tại trong việc thực hành tín ngưỡng, những nhận thức lệch lạc, kém văn hóa, các tệ nạn… là biểu hiện của kiểu tự do tôn giáo bừa bãi, làm mất đi hình ảnh tốt đẹp điểm du lịch. Những hạn chế này của hoạt động du lịch lễ hội không hoàn toàn giải quyết được bằng kỹ thuật, kỹ năng, thao tác và các quy định chung chung, mà phải giải quyết bằng con đường giáo dục: giáo dục văn hóa và pháp luật tận gốc cho toàn dân ở mọi miền, địa phương.
Từ khóa: Văn hóa dân gian, tín ngưỡng, tôn giáo, du lịch, tâm linh, Việt Nam, lễ hội.

10. Chuẩn mực đạo đức phụ nữ Việt Nam từ góc nhìn dư luận xã hội/ Đậu Thị Thùy// Tạp chí Văn hóa nghệ thuật .- Số 361/ 2014 .- Tr. 46-49
Người phụ nữ Việt Nam là kết tinh nhiều nét đẹp của dân tộc nhưng phải chịu sự ràng buộc của lễ giáo. Họ sống phụ thuộc nhiều vào dư luận xã hội, lấy dư luận để soi mình và tự điều chỉnh bản thân. Bản chất của dư luận xã hội là gắn bó với hiện thực xã hội nên chuẩn mực đạo đức người phụ nữ trong dư luận xã hội qua các thời kỳ cũng khác nhau. Bài viết đi sâu phân tích những chuẩn mực đạo đức của người phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ.
Từ khóa: phụ nữ, Việt Nam, chuẩn mực đạo đức, dư luận xã hội.

11. Thực trạng hát ghẹo thời nay/ Bùi Trọng Hiền// Tạp chí Văn hóa nghệ thuật .- Số 361/ 2014 .- Tr. 50-53
Hát ghẹo xưa là danh từ chung được dùng để chỉ hình thức hát đối đáp ở nhiều vùng miền, trải suốt từ các tỉnh đồng bằng, trung du Bắc Bộ cho đến vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, bao trùm cả hát ví, hát đúm… Trải theo thời gian, có lẽ thuật ngữ hát ghẹo chỉ còn đọng lại ở Phú Thọ, được biết đến như một hình thức hát đối đáp trai gái có tổ chức ở huyện Tam Nông với hệ thống làn điệu, trình thức diễn xướng độc đáo. Bài viết nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triển của loại hình nghệ thuật dân gian này, đồng thời nêu lên hiện trạng suy yếu của nó ở thời điểm hiện nay và đưa ra một số giải pháp nhằm khôi phục lại.
Từ khóa: hát ghẹo, văn hóa dân gian, nghệ thuật dân gian, thực trạng.

12. Vai trò của nghệ thuật hợp xướng trong đời sống âm nhạc/ Lê Vinh Hưng// Tạp chí Văn hóa nghệ thuật .- Số 361/ 2014 .- Tr. 54-57
Hợp xướng là loại hình nghệ thuật âm nhạc được biểu hiện bằng giọng hát nhiều bè. Mỗi bè có cách thức trình diễn riêng tương đối đọc lập về âm điệu, song liên kết hài hòa với nhau trong một chỉnh thể âm nhạc. Với đặc trưng cơ bản đó, hợp xướng thực chất là lối diễn tấu tập thể nhằm liên kết thống nhất tư tưởng, tình cảm của một cộng đồng nghệ sĩ trong một tác phẩm âm nhạc độc lập hoặc trong các thể loại âm nhạc khác như nhạc kịch, thanh xướng kịch, giao hưởng… Dù theo cách nào, thì hợp xướng cũng được coi là một trong những phương tiện âm nhạc để chuyển tải tiếng nói đồng vọng của quẩn chúng, đồng thời là công cụ hiệu quả nhất để tạo màu sắc cho sân khấu âm nhạc, thậm chí tạo ra kịch tính âm nhạc. Bài viết đề cao vai trò của nghệ thuật hợp xướng trong: giáo dục âm nhạc cộng đồng, trong định hình giá trị thẩm mỹ âm nhạc, trong việc nâng cao thị hiếu âm nhạc của con người và cộng đồng, trong hoạt động sáng tác, biểu diễn và chỉ huy âm nhạc, trong sự phát triển thanh nhạc.
Từ khóa: Âm nhạc, nghệ thuật hợp xướng, đời sống âm nhạc, vai trò.

13. Văn hóa quảng cáo trên truyền hình của Việt Nam hiện nay/ Ngô Thị Phương Liên// Tạp chí Văn hóa nghệ thuật .- Số 361/ 2014 .- Tr. 58-61
Trong sự phát triển của xã hội hiện nay, các quốc gia đều thừa nhận tầm quan trọng của mối quan hệ hữu cơ giữa văn hóa và kinh tế. Do đó, các doanh nghiệp rất chú trọng đến việc xây dựng văn hóa trong kinh doanh nói chung và văn hóa trong hoạt động quảng cáo nói riêng. Gía trị văn hóa của quảng cáo, bộ phận cấu thành nền văn hóa, phải phù hợp với giá trị văn hóa truyền thống. Điều này không chỉ tác động tới sự thành công trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển nền kinh tế, cũng như xây dựng văn hóa của đất nước ta hiện nay. Bài viết phân tích vai trò của văn hóa quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Văn hóa, quảng cáo, truyền hình, Việt Nam.

14. Gía trị tạo hình trên đồ đồng triều Nguyễn thế kỷ 19/ Phan Lê Chung// Tạp chí Văn hóa nghệ thuật .- Số 361/ 2014 .- Tr. 62-66
Triều Nguyễn là triều đạo quân chủ cuối cùng ở Việt Nam, trải qua hơn 143 năm với 13 triều vua với những biến cố thăng trầm, nhà Nguyễn đã để lại một kho tang khá to lớn với chiều sâu nhân văn và những giá trị nghệ thuật chưa khai thác hết được. Một trong những giá trị tiêu biểu là đồ đồng cung đình Huế. Đây là những dấu tích góp phần tạo nên dấu ấn văn hóa thời Nguyễn một thuở huy hoàng, có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển văn hóa, kiến trúc cũng như tạo hình dân tộc từ thế kỷ 19.
Từ khóa: Lịch sử, văn hóa, đồ đồng, triều Nguyễn, giá trị tạo hình, thế kỷ 19.

15. Những đặc trưng của lễ hội truyền thống ven biển Quảng Ninh/ Nguyễn Thị Phương Thảo// // Tạp chí Văn hóa nghệ thuật .- Số 361/ 2014 .- Tr. 94-97
Quảng Ninh là tỉnh thuộc khu vực Bắc Bộ, có rừng vàng biển bạc, đồng thời cũng là vùng biển quan trọng nơi địa đầu của tổ quốc. Các vùng giáp biển ở Quảng Ninh có nhiều lễ hội về biển, trong đó có 3 lễ hội được coi là tiêu biểu nhất: lễ hội Trà Cổ (biển Trà Cổ), lễ hội Tiên Công (đảo Hà Nam), lễ hội Quan Lạn (đảo Quan Lạn). Những đặc trưng cơ bản về biển được tái hiện chân thực qua các lễ hội truyền thống. Bài viết nghiên cứu đặc trưng của các lễ hội đó qua một số khía cạnh như: văn hóa ẩm thực, các biểu tượng văn hóa và nghệ thuật trình diễn.
Từ khóa: Lễ hội, văn hóa dân gian, truyền thống, biển, Quảng Ninh.

16. Nghề truyền thống ở Định Công trong quá trình đô thị hóa/ Đinh Việt Hà// Tạp chí Văn hóa nghệ thuật .- Số 361/ 2014 .- Tr. 98-101
Phường Định Công, quận Hoàng Mai (Hà Nội) trước là xã Định Công của huyện Long Đàm, sau đó thuộc huyện Thanh Trì. Đời sống kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và nghề thủ công. Nhiều người ở Định Công đã tham góp vào sự phát triển của nghề kim hoàn ở Thăng Long xưa và đến tận thời thuộc Pháp, họ vẫn giữ mối liên hệ giữa làng với phố thông qua sợi dây nghề nghiệp này. Những năm trở lại đây, Định Công đang trong quá trình đô thị hóa nhanh chóng, nông nghiệp biến mất, nghề thủ công lụi tàn và biến dạng, thay vào đó là các khu đô thị, làn sóng nhập cư ồ ạt vào làng, đi cùng với đó là các loại hình sinh kế khác. Bài viết nghiên cứu thực trạng nghề kim hoàn ở Định Công hiện nay .
Từ khóa: Nghề truyền thống, kim hoàn, Định Công, đô thị hóa.
Trung tâm Thông tin Thư viện
♦ Ý kiến của bạn
Chia sẻ :

Địa chỉ: Số 36 - Đường Dân Lập - Phường Dư Hàng Kênh - Quận Lê Chân - TP Hải Phòng
Điện thoại: 0225 3740577 - 0225 3833802 -- Fax: 0225.3740476 Email: webmaster@hpu.edu.vn