TIN TỨC HPU

  Thứ sáu, 25/07/2014 - 08:32:00

Bài trích Tạp chí Kinh tế và phát triển số 205 năm 2014

Xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc Tạp chí Kinh tế và phát triển số 205 năm 2014 tại Phòng Đọc tầng 5 nhà G - Trung tâm Thông tin Thư viện - Trường Đại học Dân lập Hải Phòng


1. Giảm nghèo trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở Việt Nam/ Vũ Thị Hoài Thu, Lê Quốc Hội// Tạp chí Kinh tế và phát triển .-  Số 205/2014 .- Tr. 2-11
 
Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng trong công cuộc giảm nghèo trong hai thập kỷ qua. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây về giảm nghèo đều cho rằng công cuộc giảm nghèo ở Việt Nam vẫn chưa hoàn thành. Bên cạnh đó, Việt Nam hiện đang phải đối mặt với những thách thức mới về giảm nghèo liên quan đến tác động của khủng hoảng kinh tế, sự không phù hợp của mô hình tăng trưởng hiện tại đối với lĩnh vực giảm nghèo làm gia tăng bất bình đẳng về thu nhập và cơ hội, lạm phát, già hóa dân số, di dân nông thôn-đô thị, và đặc biệt là sự biến đổi bất thường của khí hậu. Biến đổi khí hậu được dự đoán sẽ kéo lùi những thành quả về phát triển và giảm nghèo ở Việt Nam do tác động đến sinh kế, việc làm và thu nhập của những người nghèo dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu. Chính vì vậy, chính sách giảm nghèo trong bối cảnh biến đổi khí hậu cần được hoạch định theo hướng (i) ưu tiên các nhóm bị tổn thương nhất, bao gồm người nghèo ở nông thôn, dân tộc thiểu số và phụ nữ, (ii) tăng cường hệ thống an sinh xã hội (bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội và các chương trình hỗ trợ) và (iii) lồng ghép các chính sách giảm nghèo với các chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu.

Từ khóa: Biến đổi khí hậu, nghèo đói, giảm nghèo

2. Phát triển kinh tế, công nghiệp hóa và chất lượng môi trường: Bằng chứng thực nghiệm mới từ nghiên cứu 133 nước/ Trần Quang Tuyến// Tạp chí Kinh tế và phát triển .-  Số 205/2014 .- Tr. 12-20
 
Trong khi có rất nhiều bằng chứng thực nghiệm về tác động của thu nhập bình quân đầu người tới các chỉ số đo lường các thành phần khác nhau của môi trường, có rất ít bằng chứng về tác động của thu nhập và mức độ công nghiệp hóa tới chỉ số tổng hợp đo lường chất lượng môi trường nói chung. Sử dụng bộ dữ liệu chéo từ 133 nước năm 2012, bài viết này đã kiểm định ảnh hưởng của thu nhập, mức độ công nghiệp hóa và chất lượng thể chế đối với chất lượng môi trường được đo bằng chỉ số tổng hợp về thành tích môi trường (EPI). Nghiên cứu này đã đưa ra bằng chứng kinh tế lượng đầu tiên rằng thu nhập, mức độ công nghiệp hóa và chất lượng của thể chế có tác động tích cực tới chất lượng môi trường. Điều này hàm ý rằng phát triển kinh tế và đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa có thể là cách thức hiệu quả để bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, vai trò của Nhà nước là quan trọng trong việc duy trì môi trường thể chế có chất lượng để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững.
 
Từ khóa: Mức độ công nghiệp hóa, chất lượng môi trường, EPI, thu nhập
 
3. Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương: Cơ hội, thách thức và khuyến nghị cho các doanh nghiệp Việt Nam/ Nguyễn Đình Luận// Tạp chí Kinh tế và phát triển .-  Số 205/2014 .- Tr. 21-26
 
Việt Nam cùng với 11 quốc gia đang đàm phán để tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Trong “sân chơi” này, các doanh nghiệp Việt Nam vừa có thêm cơ hội nhưng cũng đối mặt không ít thách thức. Bài viết này chỉ ra những cơ hội: tiếp cận thị trường để mở rộng xuất nhập khẩu; tham gia đấu thầu minh bạch, công khai; thực thi nghĩa vụ bảo vệ môi trường và bảo vệ người lao động; cải cách thể chế nhằm tuân thủ những cam kết chung của TPP. Các thách thức bao gồm: nguy cơ mất khả năng cạnh tranh; thực thi các yêu cầu cao liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; chứng minh xuất xứ của nguyên liệu đầu vào; mở cửa thị trường mua sắm công. Bài viết còn đề xuất một số khuyến nghị cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia Hiệp định TPP nhằm giảm thiểu những rủi ro có thể xảy ra.
 
Từ khóa: Hiệp định, xuất khẩu, nhập khẩu
 
4. Thị trường chứng khoán Việt Nam qua 14 năm hoạt động/ Trần Đăng Khâm// Tạp chí Kinh tế và phát triển .-  Số 205/2014 .- Tr. 27-36
 
Bài viết này tổng kết quá trình phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam trong gần 14 năm qua, đặc biệt là quá trình thực hiện các đề án tái cấu trúc thị trường. Các phân tích chỉ rõ, thị trường chứng khoán Việt Nam chưa phát triển: quy mô thị trường còn nhỏ; hàng hóa còn đơn điệu về chủng loại và chất lượng chưa cao; cơ cấu quản lý thị trường còn nhiều bất cập; các tổ chức trung gian hoạt động trên thị trường vừa thiếu, vừa yếu; cấu trúc thị trường giao dịch thiếu hoàn thiện và thị trường thiếu vắng các nhà đầu tư có tổ chức, đặc biệt các nhà tạo lập thị trường. Bằng việc luận giải các nguyên nhân hạn chế sự phát triển của thị trường, tác giả đề xuất 7 giải pháp phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam, trong đó, tập trung luận giải giải pháp thực hiện tái cơ cấu về quản lý nhằm tách biệt giữa quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán với quản lý của các tổ chức tự quản, đồng thời, làm tăng vị thế của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước trong quản lý thị trường.
 
Từ khóa: Thị trường chứng khoán, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, doanh nghiệp niêm yết
 
5. Dự báo nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Việt Nam trong điều kiện thông tin bất đối xứng trên thị trường bảo hiểm y tế/ Nguyễn Thị Minh, Hoàng Bích Phương, Đỗ Thị Minh Thúy, Nguyễn Phương Lan// Tạp chí Kinh tế và phát triển .-  Số 205/2014 .- Tr. 37-43
Trong bối cảnh hệ thống khám chữa bệnh tại Việt Nam còn nhiều vấn đề, Chính phủ đã phê duyệt đề án “Giảm quá tải bệnh viện 2013-2020” nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh. Bài viết này đưa ra con số dự báo về cầu dịch vụ y tế để từ đó có thể xây dựng được kế hoạch phù hợp về phía cung. Chúng tôi sử dụng mô hình Poisson để tính toán tác động của các yếu tố lên cầu về khám chữa bệnh ngoại trú, trong đó quan tâm đến hình thức bảo hiểm y tế, từ đó đưa ra các dự báo cho tương lai, khi mà cơ cấu bảo hiểm y tế thay đổi.
 
Từ khóa: Thông tin bất đối xứng, bảo hiểm y tế, mô hình Poisson
 
6. Hội nhập và hội tụ năng suất ở cấp độ doanh nghiệp của ngành dệt may/ Nguyễn Khắc Minh, Phạm Văn Khánh, Nguyễn Việt Hưng, Phan Tất Hiển// Tạp chí Kinh tế và phát triển .-  Số 205/2014 .- Tr. 44-52
 
Mục tiêu của nghiên cứu này là xem xét sự tồn tại và bản chất của ảnh hưởng của hội nhập thông qua kênh xuất- nhập khẩu và FDI lên hội tụ năng suất của các doanh nghiệp thuộc ngành dệt may ở Việt Nam. Chúng tôi sử dụng bảng vào ra động để cấu trúc mối liên hệ giữa các doanh nghiệp nội địa và các doanh nghiệp FDI thông qua ảnh hưởng lan tỏa của FDI lên các doanh nghiệp nội địa. Chúng tôi sử dụng thủ tục biến giả để mô hình hóa những doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào hội nhập thông qua kênh xuất- nhập khẩu, sử dụng biến vốn vay từ bên ngoài để phản ánh tác động của thị trường tài chính, và sử dụng phương pháp bán tham số với đầu tư làm biến điều khiển khi ước lượng hàm sản xuất để tránh tính chệch, đồng thời nhờ đó có thể ước lượng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) thực. Với dữ liệu của ngành dệt may từ năm 2000-2011, chúng tôi đã chỉ ra rằng có ảnh hưởng tích cực của hội nhập và thị trường tài chính lên quá trình hội tụ TFP của các doanh nghiệp thuộc ngành dệt may.
 
Từ khóa: Năng suất cấp độ doanh nghiệp, hội nhập, hội tụ, tốc độ hội tụ, lan tỏa công nghệ, lan tỏa theo chiều ngang, lan tỏa theo chiều dọc, kỹ thuật bán tham số
 
7. Đo lường việc thực hiện chức năng kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp: Nghiên cứu kiểm toán nội bộ của các tổng công ty xây dựng Việt Nam/ Phan Trung Kiên// Tạp chí Kinh tế và phát triển .-  Số 205/2014 .- Tr. 53-62
 
Cùng với những loại hình kiểm toán khác, kiểm toán nội bộ đã được tổ chức tại một số doanh nghiệp xây dựng có qui mô lớn - các tổng công ty xây dựng. Mặc dù có những đóng góp nhất định cho quá trình quản trị công ty nhưng cũng có những dấu hiệu cho thấy kiểm toán nội bộ không hiệu lực trong thực hiện các chức năng kiểm toán. Kiểm toán nội bộ thực hiện nội dung kiểm toán không thống nhất, quá tập trung vào kiểm toán thông tin mà bỏ qua những lĩnh vực kiểm toán khác, thiếu cơ sở cho thực hành kiểm toán, tác nghiệp kiểm toán còn hạn chế, hạn chế trong kiểm soát chất lượng kiểm toán…Để giải quyết những vấn đề đặt ra, cần đánh giá một cách khách quan về thực hiện chức năng kiểm toán nội bộ trong những đơn vị này. Do đó, bài viết này tập trung đánh giá và trả lời cho câu hỏi thực trạng thực hiện chức năng kiểm toán nội bộ trong các tổng công ty xây dựng của Việt Nam hiện nay như thế nào? Việc bàn luận về nguyên nhân của những tồn tại trong thực hiện kiểm toán nội bộ tại các tổng công ty xây dựng Việt Nam cũng được đề cập tới một phần trong bài viết này.
 
Từ khóa: Chức năng kiểm toán nội bộ, đo lường hoạt động, Tổng công ty xây dựng Việt Nam
 
8. Các yếu tố ảnh hưởng ý định nhấn vào Banner quảng cáo trực tuyến/ Phạm Thị Minh Lý// Tạp chí Kinh tế và phát triển .-  Số 205/2014 .- Tr. 71-80
 
Bài nghiên cứu này nhằm mục đích tìm ra các yếu tố tác động đến ý định nhấn vào banner quảng cáo trực tuyến. Nghiên cứu được thực hiện bằng cách áp dụng cả phương pháp định tính và định lượng. Bài viết sử dụng dữ liệu sơ cấp từ kết quả khảo sát những người sử dụng Internet trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM) vào năm 2012. Sau khi tiến hành phân tích nhân tố, kiểm định độ tin cậy và mức độ phù hợp, phân tích mức độ tương quan và hồi quy, năm yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của khách hàng được sắp xếp theo mức độ quan trọng lần lượt như sau: (1) Banner quảng cáo có hướng dẫn dễ hiểu; (2) Banner đưa ra quảng cáo sản phẩm phù hợp với nhu cầu khách hàng; (3) Banner quảng cáo đưa ra khuyến mãi hấp dẫn; (4)Thông tin hấp dẫn, phù hợp; và (5) Mức độ về nhận thức giải trí. Từ đó, bài nghiên cứu tìm ra mối liên hệ giữa thái độ của khách hàng đối với banner quảng cáo trực tuyến và ý định nhấn vào banner đó.
 
Từ khóa: Banner quảng cáo trực tuyến, truyền thông trực tuyến, mô hình ba thành phần thái độ, ý định, thái độ
 
Trung tâm Thông tin Thư viện
♦ Ý kiến của bạn
Chia sẻ :

Địa chỉ: Số 36 - Đường Dân Lập - Phường Dư Hàng Kênh - Quận Lê Chân - TP Hải Phòng
Điện thoại: 0225 3740577 - 0225 3833802 -- Fax: 0225.3740476 Email: webmaster@hpu.edu.vn