TIN TỨC HPU

  Thứ ba, 22/07/2014 - 07:31:34

Bài trích Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ số 13 và 14 năm 2104

Xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ số 13 và 14 năm 2014 tại Phòng Đọc tầng 5 nhà G - Trung tâm Thông tin Thư viện - Trường Đại học Dân lập Hải Phòng


1. Vai trò của Ngân hàng Nhà nước trong ổn định hệ thống tài chính/ Phạm Văn Hiếu// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 13/2014 .- Tr. 21-22.
Từ năm 2011 đến nay, những rủi ro trong hệ thống tài chính Việt Nam đã liên tục giảm đi nhờ những chính sách linh hoạt, kịp thời và quyết liệt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), từ đó nền tảng kinh tế được cải thiện và các chính sách vĩ mô của Chính phủ cũng phát huy được hiệu quả cao hơn. Có thể thấy rằng, những thành công trong điều hành chính sách tiền tệ và đảm bảo an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD) đã thể hiện rõ vai trò chủ đạo của NHNN đối với việc ổn định hệ thống tài chính, đặc biệt trong thời điểm nước ta đang trong quá trình tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế.
Từ khóa: Ngân hàng Nhà nước, tài chính, Việt Nam.
2. Bàn về hoạt động giám sát từ xa của ngân hàng thương mại / Trần Thành Quảng// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 13/2014 .- Tr. 23-24.
Đặc điểm hoạt động của NHTM là có mạng lưới rộng khắp toàn quốc nên các yếu tố có thể dẫn đến rủi ro rất nhiều, trong đó có nhiều rủi ro xảy ra là do chưa tuân thủ nghiêm túc các quy trình, quy định đã được đề ra. Do vậy, để quản lý, kiểm soát rủi ro hoạt động của NHTM, ngoài việc phải có đủ các quy trình, quy chế để điều chỉnh hoạt động thì còn phải được kiểm tra, giám sát để đảm bảo việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc nhằm kịp thời phát hiện những sai sót, từ đó có những ứng xử thích hợp để giảm thiểu rủi ro, bảo vệ thương hiệu và uy tín của ngân hàng.
Từ khóa: Ngân hàng thương mại, giám sát, rủi ro.
3. Một vài gợi ý để kiểm soát tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung, dài hạn tại các NHTM Việt Nam/ Nguyễn Chí Đức, Lê Nguyễn Hoàng Sang// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 13/2014 .- Tr. 25 - 27
Trái ngược với cơ cấu kỳ hạn tiền gửi huy động, cơ cấu kỳ hạn cho vay của ngân hàng không bị mất cân đối dồn trọng tâm hẳn về một phía. Tỷ trọng dư nợ cho vay trung, dài hạn nhìn chung dao động từ 35% - 47% trong tổng dư nợ. Nguyên nhân xuất phát từ sức cầu về nguồn vốn đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất của các doanh nghiệp tại Việt Nam rất cao do hình thành và hoạt động trong một đất nước đang phát triển. Thêm vào đó, thị trường vốn vẫn còn sơ khai nên khối NHTM Nhà nước (kể cả cổ phần) phải hỗ trợ tích cực trong việc cung cấp vốn cho vay trung, dài hạn cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế, dẫn đến dư nợ cho vay trung, dài hạn tại các NH duy trì một tỷ lệ khá cao qua các năm.
Từ khóa: Ngân hàng thương mại, Việt Nam, vốn.
4. Cơ hội đầu tư trên thị trường chứng khoán năm 2014 / Mạn Đình// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 13/2014 .- Tr. 28 - 32
Nhờ đà phục hồi kinh tế tại Mỹ, Nhật Bản và các nước trong khối châu Âu, nền kinh tế toàn cầu dự báo sẽ khởi sắc trong năm 2014, tuy nhiên vẫn còn một số rủi ro tiềm ẩn do việc tăng thuế và tác động của việc giảm dần quy mô gói QE3 từ Mỹ của FED khiến tăng trưởng có xu hướng chậm tại Trung Quốc; đà tăng trưởng có khả năng duy trì ổn định tại Nhật Bản và đặc biệt sẽ ảnh hưởng tới nhóm các nền kinh tế mới nổi. Đối với Việt Nam trong giai đoạn này, nhiệm vụ trọng tâm trong điều hành kinh tế là tiếp tục triển khai tái cơ cấu 3 lĩnh vực gồm thị trường tài chính - ngân hàng, đầu tư công, doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhưng vẫn giữ được lạm phát ở mức thấp.
Từ khóa: Thị trường chứng khoán, thế giới, đầu tư, 2014.
5. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay/ Nguyễn Thị Phương Hồng, Nguyễn Thị Kim Oanh// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 13/2014 .- Tr. 32 - 34
Việc lựa chọn CSKT bị chi phối bởi nhiều nhân tố và nhìn chung được xem xét dựa trên các ảnh hưởng kinh tế (economic consequences) mà các chính sách này mang lại (Dhaliwal et al., 1982). Ảnh hưởng kinh tế ở đây, theo Holthausen và Leftwich (1983), là một sự thay đổi trong CSKT sẽ làm thay đổi cách thức tính toán, do đó sẽ làm thay đổi các chỉ tiêu kinh tế của DN như sự phân phối dòng tiền hoặc quyền lợi của các bên sử dụng những thông tin này cho việc ký kết hợp đồng hay ra quyết định.
Từ khóa: Doanh nghiệp, Việt Nam, Kế toán.
6. Các yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của các công ty niêm yết tại Việt Nam/ Nguyễn Hữu Căn, Phạm Hoàng Ân// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 13/2014 .- Tr. 35 - 37
Nghiên cứu này xem xét các yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của các công ty niêm yết (CTNY) trên TTCK Việt Nam, sử dụng dữ liệu của các doanh nghiệp trên hai sàn giao dịch chứng khoán Tp.HCM và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội trong giai đoạn 2008-2012. Nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố như quy mô hội đồng quản trị (HĐQT), HĐQT độc lập, lợi nhuận trên tổng tài sản, đòn bẩy tài chính, tính thanh khoản... có tác động đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra tính kiêm nhiệm của giám đốc điều hành, quy mô công ty, tốc độ tăng trưởng không có tác động đến chính sách chi trả cổ tức của các doanh nghiệp.
Từ khóa: Thị trường chứng khoán, cổ phiếu, Việt Nam, cổ tức.
7. Mô hình công ty tài chính nông thôn ở Moldova và một số bài học kinh nghiệm/ Nguyễn Quốc Nghi// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 13/2014 .- Tr.  38-39
RFC Moldova được thành lập vào năm 1997 thông qua sự hợp tác chung của Ngân hàng Thế giới (WB), Chính phủ Moldova và Hiệp hội Tiết kiệm và Tín dụng (Saving and Credit Association-SCAs) của Moldova. Nhiệm vụ của RFC là chống lại đói nghèo ở Moldova và thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp, cung cấp dịch vụ tài chính thuận lợi và tín dụng cho nông dân và doanh nghiệp nông thôn. RFC được xem như là “cơ sở tài chính” của mạng lưới các SCAs trên đất nước Moldova. Các SCAs là khách hàng chính và cũng là những cổ đông của RFC, cùng với RFC hoạt động như một hệ thống tài chính cho các thành viên của SCAs. Do RFC là một công ty cổ phần và không phải là ngân hàng nên nó không thể nhận tiền gửi mà hoạt động chủ yếu dựa vào vốn vay để hỗ trợ cho vay.
Từ khóa: Công ty tài chính, nông thôn, Moldova, kinh nghiệm.
 
1. Tiềm năng cho hoạt động các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam/  Hạ Thị Hải Ly// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 14/2014 .- Tr.21-23.
Trong những năm trở lại đây, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Sau gần 30 năm đổi mới kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, tăng cường cơ sở vật chất, có những bước tiến mạnh mẽ trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo nhằm thực hiện mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Tuy nhiên, so với mặt bằng khu vực và trên thế giới thì Việt Nam vẫn nằm trong nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp. Nhằm cải thiện vị trí này, trong gần 30 năm qua, hàng loạt các tổ chức tài chính vi mô (TCVM) đã xuất hiện tại Việt Nam. Đó có thể là các tổ chức TCVM phi chính phủ, các Ngân hàng chuyên trách, các hợp tác xã, các công ty tài chính...cung cấp dịch vụ tín dụng, gửi tiết kiệm, các dịch vụ tài chính và phi tài chính khác được người nghèo đánh giá cao.
Từ khóa: Kinh tế vi mô, tài chính, Việt Nam.
2. Phát triển các tổ chức tài chính vi mô góp phần đảm bảo an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững/ Phan Thị Hồng Thảo// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 14/2014 .- Tr.24-27.
Tài chính vi mô là một công cụ mạnh mẽ để chống lại đói nghèo tại nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Nhờ có các tổ chức tài chính vi mô mà người nghèo, người có thu nhập thấp mới có khả năng tiếp cận với các dịch vụ tài chính ngân hàng để cải thiện cuộc sống. Thông qua kênh tài chính vi mô mà tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam giảm từ 28,9% (2002) xuống còn 11,1% (2012). Tuy nhiên, với đặc trưng là một quốc gia có tỷ lệ người nghèo và người có thu nhập thấp tương đối cao, nên nhu cầu về dịch vụ tài chính vi mô cho người nghèo là rất lớn. Trên thực tế, các tổ chức tài chính vi mô mới chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu của người nghèo, còn lại khoảng 60% vẫn chưa tiếp cận được với dịch vụ này. Để đáp ứng được tốt hơn nhu cầu về dịch vụ tài chính vi mô, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững, các tổ chức tổ chức tài chính vi mô cần đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, nâng cao chất lượng hoạt động, chất lượng phục vụ và tăng cường tính bền vững.
Từ khóa: Kinh tế vi mô, tài chính, phát triển bền vững, Việt Nam.
3. Nhận diện khó khăn tiềm ẩn của nền kinh tế Việt Nam hiện nay/ Hồ Công Minh// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 14/2014 .- Tr. 28 - 31
Mặc dù đạt được một số thành tựu trong kinh tế, nhưng có thể thấy nền kinh tế nước ta vẫn còn những khó khăn rất lớn. Nợ công, nợ xấu ngân hàng, tổng cầu suy giảm là những nút thắt của nền kinh tế cần giải quyết cấp bách. Bài viết đưa ra những khó khăn còn tiềm ẩn của nền kinh tế, vướng mắc trong quá trình xử lý, đồng thời kiến nghị một số biện pháp trọng tâm, nhằm giải quyết trước mắt cũng như lâu dài.
Từ khóa: Kinh tế, Việt Nam, Ngân hàng.
4. Nghiên cứu giải pháp phát triển đặc khu kinh tế ở Việt Nam/ Nguyễn Tuấn Dũng// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 14/2014 .- Tr. 31 - 33
Kết luận số 74-KL/TW ngày 17/10/2013 của Hội nghị Trung ương lần thứ 8 Khóa XI đã đề ra chủ trương phải sớm xây dựng, phê duyệt, triển khai thực hiện một số đề án thành lập khu hành chính - kinh tế đặc biệt. Chủ trương đó đang được cụ thể hóa bằng việc chúng ta cho xây dựng 3 đặc khu kinh tế tại 3 miền Bắc, Trung, Nam ở 3 địa phương có tiềm năng là Vân Đồn (Quảng Ninh), Vân Phong (Khánh Hòa) và Phú Quốc (Kiên Giang) nhằm tạo động lực phát triển cho từng vùng và cả nước. Đây là một chủ trương lớn nhằm thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển nhanh, bền vững. Thực tiễn trên thế giới cho thấy, mô hình đặc khu kinh tế đã được xây dựng và phát triển thành công ở nhiều quốc gia từ hơn 3 thập kỷ qua; tuy nhiên, cũng không ít mô hình đã gặp phải những thất bại trong quá trình xây dựng. Từ kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về xây dựng đặc khu kinh tế, làm thế nào để mô hình đặc khu kinh tế của Việt Nam phát triển có hiệu quả và tránh đi vào vết xe đổ của các nước đi trước? Phát triển đặc khu kinh tế ở Việt Nam rất cần được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng với bước đi thận trọng bằng những giải pháp hợp lý.
Từ khóa: Kinh tế, Việt Nam, đặc khu kinh tế.
5. Sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị: giải pháp thiết thực tái cấu trúc ngành nông nghiệp/ Nguyễn Quang Tạo, Phạm Đăng Minh// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 14/2014 .- Tr. 34-35
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2015, Đại hội XI của Đảng xác định: “Phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, thân thiện với môi trường, gắn sản xuất với chế biến và thị trường, mở rộng xuất khẩu”. Quán triệt chủ trương đó, để thực hiện sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị, trước mắt và lâu dài cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau.
Từ khóa: Nông nghiệp, sản xuất, tái cấu trúc.
6. Các phương pháp định giá cổ phiếu trong IPO trên thị trường chứng khoán Việt Nam/ Trần Nguyễn Minh Hải, Phạm Thanh Uyển Nhi// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 14/2014 .- Tr. 36 - 39
Định giá cổ phiếu là một vấn đề quan trọng đối với cả nhà đầu tư và công ty phát hành, đặc biệt khi công ty tiến hành chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (Initial Public Offering - IPO). Mặc dù có nhiều phương pháp định giá, việc sử dụng các phương pháp định giá này trong IPO trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn. Bài viết tiến hành nghiên cứu phương pháp định giá được sử dụng phổ biến trên thực tế để định giá cổ phiếu trong IPO trên TTCK Việt Nam, tìm hiểu các khó khăn khi ứng dụng các phương pháp định giá, qua đó đề xuất giải pháp hoàn thiện ứng dụng kỹ thuật các phương pháp định giá này trong thực tiễn.
Từ khóa:Thị trường chứng khoán, Việt Nam, cổ phiếu.
7. Ngân hàng Thế giới hạ thấp mức dự đoán tăng trưởng kinh tế thế giới// Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ .- Số 14/2014 .- Tr. 40
Theo báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu (Global Economic Prospects hay GEP) vừa được Ngân hàng Thế giới công bố mới đây, các nước đang phát triển sẽ chứng kiến một tỉ lệ tăng trưởng đáng thất vọng trong năm nay vì lí do tăng trưởng kém trong quý 1/2014 đã làm chậm quá trình phục hồi kinh tế. Thời tiết không thuận tại Mỹ, khủng hoảng Ukraine, quá trình tái cân đối tại Trung Quốc, bất ổn chính trị tại một số nước thu nhập trung bình, tốc độ tái cơ cấu chậm chạp và hạn chế năng lực đã kéo tỉ lệ tăng trưởng các nước đang phát triển xuống dưới mức 5% trong năm thứ 3 liên tiếp.
Từ khóa: Ngân hàng Thế giới, kinh tế, tăng trưởng.
Trung tâm Thông tin Thư viện
 
♦ Ý kiến của bạn
Chia sẻ :

Địa chỉ: Số 36 - Đường Dân Lập - Phường Dư Hàng Kênh - Quận Lê Chân - TP Hải Phòng
Điện thoại: 0225 3740577 - 0225 3833802 -- Fax: 0225.3740476 Email: webmaster@hpu.edu.vn