TIN TỨC HPU

  Thứ bảy, 12/04/2014 - 03:47:22

Bài trích trong Tạp chí Xây dựng số 2 năm 2014

Kính mời độc giả tìm đọc tại Phòng Đọc mở - Trung tâm Thông tin Thư viện, Tầng 5 nhà G - Trường Đại học Dân lập Hải Phòng

 

 

1. Xử lý nền đất yếu bằng cột xi măng đất (CDM) dưới nền nhà công nghiệp tải trọng lớn/ Trần Xuân Thọ, Vương Hồng Sơn// Tạp chí Xây dựng. - Số 2/2014 .- Tr. 86 - 89.

Nội dung bài báo tập trung nghiên cứu xử lý nền đất yếu dưới nền nhà công nghiệp chịu tải trọng lớn bằng cột xi măng đất (CDM). Sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn (phần mềm Plaxis 2D, 3D) và phương pháp giải tích để tính toán, phân tích ứng xử về ứng suất, biến dạng của cột xi măng đất và đất nền cho công trình nhà xưởng thuộc dự án nhà máy chế biến đậu nành Bunge, khu CN Phú Mỹ I, Bà Rịa – Vũng Tàu. Các phương pháp tính toán cho thấy kết quả phù hợp và đồng thời tính hiệu quả của giải pháp là làm giảm độ lún và tăng cường độ của nền đất.

Từ khóa: nền đất yếu, cột xi măng đất, nền nhà công nghiệp, độ lún.

 2. Nghiên cứu đánh giá ổn định của công trình đắp trên nền đất yếu có xử lý bấc thấm dựa vào số liệu chuyển vị của nền/ Lê Bá Vinh, Nguyễn Văn Thành// Tạp chí Xây dựng. - Số 2/2014 .- Tr. 90 - 92.

Hiện nay khi thi công công trình đắp trên nền đất yếu có xử lý bấc thấm, có thể đánh giá sự ổn định nền dựa trên các số liệu chuyển vị của nền đất. Có 2 phương pháp đã được sử dụng khá phổ biến trong điều kiện ở Nhật Bản là: Phương pháp Matsuo - Kawamura, và phương pháp Tominaga -  Hashimoto. Bài báo này trình bày các phân tích nhằm đánh giá khả năng áp dụng của 2 phương pháp này trong điều kiện ở Việt Nam. Việc phân tích được tiến hành thông qua phần mềm PLAXIS cho công trình thực tế là đường Nguyễn Văn Cừ nối dài tại thành phố Cần Thơ. Từ các kết quả tính toán được, các tác giả rút ra kiến nghị về khả năng áp dụng của 2 phương pháp nêu trên ở Việt Nam.

Từ khóa: ổn định nền, độ lún, chuyển vị ngang, phương pháp Matsuo - Kawamura, phương pháp Tominaga -  Hashimoto.

 3. Nghiên cứu sự ảnh hưởng của sợi Polypropylene tới tính chất co ngót của bê tông/ Trần Văn Miền, Lê Xuân Lâm// Tạp chí Xây dựng. - Số 2/2014 .- Tr. 93 - 96.

Việc dùng sợi trong bê tông để tăng cường khả năng chịu lực cho bê tông xi măng là một ý tưởng được đề ra từ rất lâu. Bê tông cốt sợi đã được bắt đầu nghiên cứu từ đầu những năm 1960. Ngày nay, các loại sợi khác nhau như sơi thép, sợi Polyme, sợi thủy tinh, sợi cacbon, sợi thiên nhiên đã được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi ở hầu hết các cấu kiện bê tông cốt thép trên thế giới và bước đầu được quan tâm ở nước ta. Mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng trong một số trường hợp, bê tông cốt sợi không thể thay thế được bê tông cốt thép dự ứng lực nhưng lại có thể kết hợp để thành cấu kiện bê tông dự ứng lực pha cốt sợi với những tính năng chịu lực đặc biệt.

Từ khóa: bê tông cốt sợi, sợi Polypropylene, bê tông dự ứng lực.

 4. Nghiên cứu tính chất cơ lý của đất khi gia cố bằng các loại xi măng khác nhau/ Nguyễn Minh Tâm, Nguyễn Tiến Hoàng Nghĩa// Tạp chí Xây dựng. - Số 2/2014 .- Tr. 97 - 101.

Các công trình cao tầng ở khu vực Quận 7 - Tp HCM thường sử dụng móng cọc và có nhiều cọc trong 1 đài cọc. Trong thiết kế móng cọc thì khoảng cách giữa các cọc và việc bố trí các cọc trong đài cọc phải hợp lý để có thể đảm bảo yếu tố về kinh tế và an toàn cho công trình. Việc sắp xếp cọc và khoảng cách của các cọc khác nhau thì sự làm việc chung của các nhóm cọc cũng khác nhau, tức là tổng sức chịu tải của nhóm cọc sẽ thay đổi và khác với tổng sức chịu tải của từng cọc đơn. Bài toán này được giải quyết thông qua hệ số nhóm cọc, đây cũng chính là cơ sở hình thành nên bài báo này. Với nội dung nghiên cứu này, tác giả mong muốn đóng góp vào việc xây dựng một bộ thông số chung về hệ số nhóm cọc cho việc thiết kế móng cọc các công trình có nền đất ở Quận 7 - Tp HCM.

Từ khóa: móng cọc, hệ số nhóm cọc, thiết kế móng cọc, công trình xây dựng.

 5. Ảnh hưởng mức độ bền vững của liên kết chân cột đến nội lực và chuyển vị của kết cấu cột thép tự đứng/ Trần Nhất Dũng, Vũ Ngọc Quang// Tạp chí Xây dựng. - Số 2/2014 .- Tr. 102 - 104.

Các cột thép tự đứng (anten, cột điện,...), sau khi đưa vào sử dụng, thường xuất hiện sự rung lắc, hoặc có chuyển vị ngang lớn hơn khá nhiều so với tính toán thiết kế. Bài báo này sẽ nghiên cứu các nguyên nhân gây ra sự cố dạng này. Sử dụng một phần mềm do tác giả tự lập, để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các liên kết giữa móng BTCT với cột thép. Định lượng mức độ ảnh hưởng của sự không bền vững của liên kết, đến nội lực và chuyển vị của kết cấu cột thép. Qua đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị cho các thiết kế kết cấu tương tự.

Từ khóa: cột thép tự đứng, liên kết chân cột, độ bền vững của liên kết, phần mềm Vn3Dpro.

 6. Phân tích động lực học dầm phân lớp chức năng trên nền đàn hồi chịu khối lượng di động/ Phạm Đình Trung// Tạp chí Xây dựng. - Số 2/2014 .- Tr. 105 - 109.  

Bài báo này phân tích ứng xử động của dầm phân lớp chức năng trên nền đàn hồi chịu tác động của tải trọng di động được mô hình dưới dạng lực và khối lượng di động dựa trên lý thuyết dầm Euler – Bernoulli. Đặc tính vật liệu của dầm phân lớp chức năng được giả thiết thay đổi dọc theo phương chiều cao tiết diện dầm bởi quy luật hàm mũ. Phương trình chuyển động của dầm, nền và khối lượng được thiết lập dựa trên nguyên lý cân bằng động và phương pháp hữu hạn và giải bằng phương pháp tích phân số trên toàn miền thời gian. Ảnh hưởng của đặc tính vật liệu dầm, độ cứng nền và vận tốc của khối lượng lên phản ứng động của dầm khối được khảo sát

Từ khóa: khối lượng di động, lực di động, vật liệu phân lớp chức năng, nền đàn hồi.

 7. Ứng dựng thuật giải Ga-pso và Lý thuyết mờ giải quyết bài toán tối ưu thời gian - chi phí - nhân lực cho dự án xây dựng/ Phạm Hồng Luân, Trương Đức Khánh// Tạp chí Xây dựng. - Số 2/2014 .- Tr. 110 - 113.

Bài báo này là một mô hình tối ưu để cân đối thời gian - chi phí -  nhân lực cho các dự án xây dựng bằng thuật giải kết hợp giữa thuật giải di truyền (GA) và thuật giải tối ưu quần thể (PSO). Trong đó, Lý thuyết mờ được sử dụng để mô tả sự không chắc chắn thường gặp trong chi phí của các công tác. Mô hình đề xuất có khả năng tìm được các phương án tiến độ tối ưu thời gian – chi phí đồng thời; và ứng với từng phương án tìm được, mô hình có thể xác định cách thức thực hiện dự án để đảm bảo mức độ biến động nhân công là thấp nhất.

Từ khóa: thuật giải Ga-pso, lý thuyết mờ, thuật giải tối ưu quần thể, biến động nhân công.

 8. Dao động tự do của dầm phân lớp chức năng trên nền đàn hồi hai thông số dùng lý thuyết biến dạng trượt khác nhau/ Nguyễn Trong Phước, Phạm Trí Quang// Tạp chí Xây dựng. - Số 2/2014 .- Tr. 114 - 119.

Dao động tự do của dầm phân lớp chức năng với các điều kiện biên khác nhau trên nền đàn hồi hai thông số dùng các lý thuyết biến dạng trượt bậc nhất và bậc ba của dầm được trình bày trong bài báo này. Đặc trưng của vật liệu của dầm phân lớp chức năng được mô tả bởi qui luật hàm lũy thừa theo chiều cao của dầm. Mô hình nền đàn hồi hai thông số gồm có lớp cắt đặt trên nền Winkler được sử dụng trong bài báo này. Bài toàn được thiết lập dựa trên nguyên lý năng lượng Hamilton với các hệ số nhân thỏa mãn điều kiện biên của dầm. Ảnh hưởng của nền đàn hồi hai thông số, các điều kiện biên và hệ số độ mảnh của dầm đến tần số dao động riêng được phân tích chi tiết trong bài báo này.

Từ khóa: dầm phân lớp chức năng, dao động tự do, nền đàn hồi hai thông số.

 9. Mối quan hệ giữa việc thực hiện quản lý chất lượng toàn diện với thành quả kinh doanh của các công ty xây dựng tại Tp Hồ Chí Minh/ Ngô Minh Thiện, Cao Hào Thi// Tạp chí Xây dựng. - Số 2/2014 .- Tr. 120 - 123.

Nghiên cứu này xác định các yếu tố quan trọng của Quản lý chất lượng toàn diện (TQM) và đo lường ảnh hưởng của việc thực hiện TQM đến thành quả kinh doanh của các công ty xây dựng tại Tp Hồ Chí Minh. Các mối quan hệ được phân tích bởi kỹ thuật Mô hình phương trình cấu trúc (SEM). Năm yếu tố quan trọng của TQM được xác định gồm (1) Chiến lược quản lý chất lượng và giao tiếp trong công ty, (2) Quản lý chất lượng đối với nhà cung cấp, (3) Sự quan tâm của nhà quản lý đối với nhân viên, (4) Sự cam kết và lãnh đạo của nhà quản lý về chất lượng và (5) Quản lý quan hệ khách hàng. Kết quả phân tích SEM chỉ ra rằng việc thực hiện TQM có mối quan hệ đồng biến trực tiếp đến cả thành quả phi tài chính và thành quả tài chính của công ty. Ngoài ra, việc thực hiện TQM ảnh hưởng đến thành quả phi tài chính đáng kể hơn thành quả tài chính của công ty.

Từ khóa: quản lý chất lượng toàn diện, thành quả kinh doanh, mô hình phương trình cấu trúc, nhà quản lý.

 10. Vùng phân bố ứng suất theo phương thẳng đứng của nền đất xung quanh cọc đơn và nhóm cọc chịu tải dọc trục/ Bách Vũ Hoàng Lan// Tạp chí Xây dựng. - Số 2/2014 .- Tr. 124 - 127.

Bài báo này phân tích phạm vi phân bố ứng suất của nền đất xung quanh cọc đơn và nhóm cọc khi cọc chịu nén dọc trục. Các thông số chính được đề cập trong nghiên cứu: độ lớn của tải trọng nén dọc trục, kích thước tiết diện cọc, bề rộng và chiều sâu của vùng phân bố ứng suất. Các phân tích cung cấp một số thông tin giúp chúng ta có thể hiểu rõ hơn về ứng xử của nhóm cọc trong nền đất dính.

Từ khóa: phân bố ứng suất, nền đất, cọc chịu tải dọc trục, cọc đơn.

 11. Mô hình hóa quá trình gia công chế tạo lồng thép cọc khoan nhồi/ Phạm Hoàng, Nguyễn Quốc Bảo// Tạp chí Xây dựng. - Số 2/2014 .- Tr. 133 - 136.

Thi công chế tạo lồng thép là một trong những công đoạn lớn của quá trình thi công cọc khoan nhồi. Bài báo này trình bày các kết quả mô hình hóa công đoạn chế tạo lồng thép nhằm tiến tới mô hình hóa quá trình thi công cọc đơn.

Từ khóa: chế tạo lồng thép, cọc khoan nhồi, cọc đơn, mô hình hóa.

 

 

 

 

♦ Ý kiến của bạn
Chia sẻ :

Địa chỉ: Số 36 - Đường Dân Lập - Phường Dư Hàng Kênh - Quận Lê Chân - TP Hải Phòng
Điện thoại: 0225 3740577 - 0225 3833802 -- Fax: 0225.3740476 Email: webmaster@hpu.edu.vn