Tin tức HPU

  Thứ tư, 27/11/2013 - 15:15:36

Góp ý dự thảo Luật giáo dục Đại học

Việc cho ra đời Luật giáo dục Đại học là hết sức cần thiết. Sau khi tiếp nhận Dự thảo Luật Giáo dục đại học, trường Đại học dân lập Hải phòng đã tổ chức góp ý kiến cho Dự thảo. Trên cở sở các ý kiến, trong phạm vi bài này, chúng tôi xin đóng góp ý kiến về vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học và quan điểm xây dựng Luật.

 

1.Về vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm

     Để bàn về vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm  của cơ sở giáo dục đại học trước hết ta xem xét khải niệm về tự chủ.

     Có nhiều khái niệm về tự chủ trường đại học, tuy nhiên tự chủ có thể được hiểu như là tính tự quyết của một cơ sở giáo dục đại học. Một số nhà khoa học cho rằng tính tự quyết thể hiện ở 3 lĩnh vực:
-Nhân sự: tuyển dụng, bổ nhiệm và miễn nhiệm cán bộ quản lý, giảng viên trong trường
-Học thuật: các quy định về lựa chọn ngành nghề theo học, về chương trình đào tạo, về lựa chọn môn học, các yêu cầu điều kiện tốt nghiệp, và tự do học thuật.
-Tài chính

     Tự chủ đại học cũng được hiểu như là sự tự do của một cơ sở giáo dục đại học trong việc điều hành các công việc mà không có sự chỉ đạo hoặc tác động từ bất cứ cấp chính quyền nào.

     Tự chủ đại học cho phép một cơ sở giáo dục đại học tiến hành các hoạt động của tổ chức mà không có sự can thiệp từ bên ngoài. Nhưng như vậy không có nghĩa là nó nằm ngoài sự chi phối của luật pháp. Nó là tự chủ có điều kiện và các điều kiện này được xác định bởi mối quan hệ giữa Nhà nước, xã hội và cơ sở GDĐH.

Sự cần thiết phải đưa nội dung này vào trong luật
     Tự chủ làm cho cơ sở có quyền chủ động hoàn toàn và huy động được sức người, sức của, tài năng trí tuệ của các đối tượng phục vụ công tác với hiệu suất chất lượng cao, đặc biệt có thể tiết kiệm được nguồn nhân lực cũng như công sức tiền của. Hơn nữa, cơ sở giáo dục nhận thấy rõ ràng rằng, trách nhiệm của bản thân đơn vị, không gây ra tư tưởng dựa dẫm cấp trên, thiếu năng động sáng tạo.

     Tự chủ còn đem lại niềm tự hào của lãnh đạo đơn vị trong việc luôn luôn chủ động trong mọi mặt công tác và đòi hỏi họ phải vươn lên chiếm một vị thế xứng đáng trong xã hội. Nếu trường tư thục không làm chủ và tự chủ giải quyết những vấn đề nêu trên làm sao có thể dám chịu trách nhiệm với xã hội. Hơn nữa trước khi chịu trách nhiệm với xã hội thì bản thân cơ sở giáo dục phải có sự tự chịu trách nhiệm của bản thân, của đơn vị, của từng cá nhân trước mỗi sản phẩm làm ra. Sau đó phải tự chịu trách nhiệm xã hội, với nhân dân, với cộng đồng.

     Tự chịu trách nhiệm có thể được hiểu như là sự đáp ứng các yêu cầu của nhà nước và của xã hội. Tuy nhiên nếu chỉ tự chủ, tự chịu trách nhiệm cũng chưa đầy đủ mà cần được tự quyết. Do đó, tự chủ, tự quyết và tự chịu trách nhiệm là ba phạm trù không thể tách rời.
Như vậy đây là một nội dung rất lớn, cần phải đưa vào luật một cách cụ thể.

     Luật Giáo dục năm 2005 có riêng một điều 60 về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của của trường trung cấp, cao đẳng, đại học với 5 khoản:
1.Xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy, học tập đối với các ngành nghề được phép đào tạo
2.Xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh tổ chức tuyển sinh,tổ chức quá trình đào tạo, cong nhận tốt nghiệp và cấp bằng
3.Tổ chức bộ máy, tuyển dụng, quản lý, sử dụng đãi ngộ nhà giáo, cán bộ, nhân viên
4.Huy động, quản lý nguồn lực
5.Hợp tác với các tổ chức kinh tế, giáo dục, xã hội… trong và ngoài nước.

     Trong Dự thảo luật giáo dục đại học 2011,điều 46 khoản 3 đã có đề cập đến ‘tự chủ”, tuy nhiên mới giới hạn ở vấn đề hoạt động tài chính của trường tư thục: “Cơ sở giáo dục đại học tư thục tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong quản lý, sử dụng các nguồn thu”, như vậy chưa đầy đủ. Chúng tôi cho rằng cần đưa vào Luật những nội dung cụ thể hơn về vấn đề này, như
-Tự chủ, tự quyết trong công tác quản trị nhà trường
-Tự chủ, tự quyết trong công tác tài chính
-Tự chủ, tự quyết trong việc ban hành các quyết định liên quan đến nhân sự
-Tự chủ, tự quyết về chương trình đạo tạo
-Tự chủ, tự quyết trong công tác đánh giá và cấp bằng cấp cho sinh viên

     Với kinh nghiệm của bản thân trong quá trình xây dựng và phát triển 14 năm vừa qua, chúng tôi nhận thấy mỗi cơ sở giáo dục, đặc biệt là cơ sở giáo dục tư thục nếu không tự chủ sẽ không thực hiện được nhiệm vụ trước xã hội.

     Với mục tiêu hoạt động vì cộng đồng không vì lợi nhuân, trường Đại học Dân lập Hải Phòng đã vận dụng sáng tạo điều 60 của của Luật giáo dục 2005,  do đó đã tạo những dấu ấn nhất định được ghi nhận trong xã hội nói chung và trong ngành giáo dục nói riêng. Thành quả ngày hôm nay chúng tôi có được gắn liền với cụm từ: tự chủ, tự quyết, tự chịu trách nhiệm.
1.Tự chủ trong xây dựng cơ sở vật chất: Xây dựng thư viện điện tử, là một trong 5 thư viện điện tử đầu tiên trong cả nước, Xây dựng khu Liên hợp thể dục thể thao, bể bơi thông minh, sân vận động, Khách sạn sinh viên, nhà ăn sinh viên ….để thực hiện việc giáo dục toàn diện.
2.Tự chủ trong huy động các nguồn vốn: Huy động vốn của toàn thể cán bộ giảng viên. Việc làm này làm tăng thu nhập của cán bộ giảng viên, nhân viên, đồng thời tăng thêm trách nhiệm, sự gắn bó của mọi người với trường, bởi vì như vậy mỗi người đều là chủ nhân của nhà trường.
3.Tự chủ trong xây dựng đội ngũ: Từ nguồn vốn của nhà trường đã đào tạo được 145 thạc sĩ, 2 tiến sĩ, đang gửi đi đào tạo 22 tiến sĩ trong và ngoài nước.
4.Tự chủ trong công tác quản lý: Sử dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO: 2001-2000, nay là ISO 9001: 2008
5.Tự chủ trong công tác đảm bảo chất lượng: sử dụng chứng chỉ quốc tế trong đánh giá kết quả học tập, thực hiện kiểm định….
6.Tạo điều kiện cho cán bộ giảng viên tự chủ trong lao động sáng tạo đóng góp xây dựng trường.
7.Tự chủ trong việc chăm sóc phục vụ người học, đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần an sinh xã hội cho cán bộ giảng viên nhân viên...

     Trong quá trình xây dựng và phát triển, nếu không có sự tự chủ, tự quyết và dám  chịu trách nhiệm trước xã hội, trước sinh viên, vì sự nghiệp xã hội hóa giáo dục chắc chắn trường ĐHDLHP không thể trở thành một trong 20 trường đầu tiên trong cả nước được công nhận đạt chất lượng kiểm định giáo dục, và cũng không thể là một trong 25 trường tốp đầu của cả nước về tỷ lệ sinh viên có việc làm cao và không thể có được vị thế như hôm nay. Trường đã đặt lợi ích của sinh viên, của đông đảo cán bộ giảng viên lên trên, và coi đó là trách nhiệm của nhà trường với cộng đồng. Nhà trường hoạt động không vì mục đích thương mại hóa, không vụ lợi, mọi hoạt động của trường đều hướng tới việc tạo một cơ hội tốt nhất cho người học có được kiến thức thật sự để có cuộc sống tốt đẹp, để phục vụ xã hội.

2.Về nhiệm vụ và quyền hạn của cơ sở giáo dục đại học:

     Điều 10 Dự thảo: Cơ sở giáo dục đại học Việt nam được tổ chức theo 2 loại hình: Công lập và tư thục. Cơ sở GDĐH công lập là do nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm bảo chi thường xuyên.

     Thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục của Đảng, hệ thống trường đại học ngoài công lập đã được hình thành, phát triển,  khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng trong việc huy động sức dân vào giáo dục đào tạo. Chính chủ trương này đã tạo đà cho sự phát triển giáo dục trong thời gian qua, cung cấp cho xã hội một đội ngũ đông đảo nhân lực đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mà không cần nhiều đến nguồn lực của nhà  nước.

     Việc hình thành hệ thống này cũng đã thúc đẩy quá trình cạnh tranh lành mạnh trong toàn bộ hệ thống. Người dân được quyền lựa chọn cho mình một dịch vụ đáp ứng nguyện vọng, nhu cầu, năng lực, điều kiện của bản thân. Một số trường ngoài công lập đã khẳng định thương hiệu, vị  thế của mình trong hệ thống giáo dục toàn quốc.

     Trong Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001- 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 201/2001/QĐ ngày 28 tháng 12 năm 2001 đã đề ra mục tiêu phải đạt 30%  sinh viên được đào tạo trong các trường ngoài công lập vào năm 2010. Trong dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục 2009-2020, dự kiến đưa số sinh viên ngoài công lập lên 30 đến 40%. Những định hướng đó là hoàn toàn đúng đắn trong sự phát triển chung của xã hội. 

     Tuy nhiên, theo con số thống kê mới đây, tỷ lệ sinh viên trong các trường ngoài công lập năm 2010 vào khoảng 18%. Tỷ lệ số trường ngoài công lập từ Bắc đến nam khoảng 19%.
 
     Như vậy để thực hiện thành công chủ trương xã hội hoá giáo dục của Đảng, chúng tôi đề xuất cần đưa vào luật điều kiện để thành lập một trường sử dụng ngân sách nhà nước: thí dụ, chỉ thành lập trường công trong các trường hợp: vùng khó khăn về kinh tế, vùng dân tộc ít người, miền núi, vùng sâu, hải đảo…, Những trường đặc thù phục vụ an ninh, quốc phòng, những ngành khoa học  vũ trụ, năng lượng hạt nhân, những trường trọng điểm quốc gia, đào tạo tinh hoa …. Và như vậy, những trường này sẽ được nhà nước đài thọ đầy đủ để thực hiện nhiệm vụ mục tiêu đã đề ra. Và những điều này cần nêu rõ ràng trong luật khi nào sẽ được thành lập trường Công lập.

     Đối với các trường đã được thành lập, có nên thực hiện việc chuyển các trường công lập không phải là trường mũi nhọn, không do đặc trưng vùng miền, không phải những ngành quốc phòng, an ninh sang hệ thống ngoài công lập, tạo một sân chơi bình đẳng cho các trường khổng? Nếu thực hiện những việc này, có thể sẽ tạo nên một bước đột phá về giáo dục đào tạo, do nhà nước tập trung nguồn lực vào những vùng trọng điểm, vào những nhiệm vụ chiến lược, vào những trường mang tầm vóc khu vực và quốc tế. 

3.Về quan điểm xây dựng Luật giáo dục đại học

     Luật giáo dục đại học nên được xây dựng nhằm làm tăng tính tự chủ tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học, tạo nền tảng cho các cơ sở giáo dục đại học phát triển bền vững và bay lên hòa nhập với giáo dục đại học quốc tế…, mặt khác, luật giáo dục đại học cần tạo ra sự bình đẳng, khách quan, dân chủ, không kể công tư nhằm khuyến khích các cơ sở giáo dục sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nhằm đưa giáo dục đại học nước nhà tiến kịp với sự phát triển giáo dục đại học của thế giới.

     Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai của đất nước, tuy nhiên hiện nay đang có sự không công bằng giữa sinh viên công lập và ngoài công lập trong lĩnh vực giáo dục. Cùng được đào tạo ra để phục vụ đất nước, nhưng sinh viên công lập đang được hưởng nhiều ưu đãi hơn sinh viên ngoài công lập, không những thông qua kinh phí Nhà nước cấp cho các cơ sở công lập, mà còn thể hiện ở việc, mọi hoạt động của trường ngoài công lập đều phải chịu thuế doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng: Thí dụ thuế trên tiền gửi xe của sinh viên, thuế trên tiền nhà ở của sinh viên, thuế trên tiền giảng dạy của các giảng viên thỉnh giảng đã về nghỉ hưu?. Tất cả những khoản tiền này ai sẽ phải chịu nếu không phải là chính sinh viên, người sử dụng các dịch vụ đó? Đây chính là vấn đề tạo nên sự thiếu bình đẳng trong hoạt động của 2 loại hình này.

     Một vấn đề bất cập đang đặt ra là các trường ngoài công lập phải huy động sự đóng góp của cán bộ giảng viên trong việc xây dựng trường, tuy nhiên phần lãi thu được phải chịu thuế thu nhập cá nhân, trong khi đó lãi do gửi tiền ở ngân hàng thì không phải chịu thuế?.

     Để giải quyết những vấn đề này, cần có thêm những quy định cụ thể hơn về cơ chế chính sách trong việc hỗ trợ của của Nhà nước đối với trường ngoài công lập, đối với sinh viên hệ này.

GS. TS. Trần Hữu Nghị, Bí thư Đảng uỷ, Hiệu trưởng

♦ Ý kiến của bạn
Chia sẻ :

Địa chỉ: Số 36 - Đường Dân Lập - Phường Dư Hàng Kênh - Quận Lê Chân - TP Hải Phòng
Điện thoại: 0225 3740577 - 0225 3833802 -- Fax: 0225.3740476 Email: webmaster@hpu.edu.vn